SỐC PHẢN VỆ | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa SỐC PHẢN VỆ | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa

Chưa phân loại

SỐC PHẢN VỆ



  1. Biểu hiện lâm sàng trong một trường hợp điển hình của sốc phản vệ là gì?
  2. Các quá trình sinh lý bệnh là gì?
  3. Những vấn đề nào cần xem xét trong chẩn đoán phân biệt?

Bàn luận

  1. Biểu hiện lâm sàng trong một trường hợp điển hình của sốc phản vệ là gì?

Trong trường hợp nặng, biểu hiện trên lâm sàng bao gồm tụt huyết áp đột ngột, co thắt phế quản hoặc tắc nghẽn thanh quản. Bệnh nhân thường trình bày triệu chứng xảy ra đột ngột, trong vòng vài phút sau ăn gì đó hoặc tiêm kháng nguyên (ví dụ một loại kháng sinh) hoặc nọc côn trùng và có thể gây tử vong. Ban đầu xuất hiện nổi mề đay, phù mạch, khó thở, khàn tiếng và hạ huyết áp vừa phải. Nếu các chất gây dị ứng đã bị nuốt vào bụng, có thể có đau bụng, nôn mửa và tiêu chảy. Việc chẩn đoán sốc phản vệ dễ dàng nếu các triệu chứng được mô tả xuất hiện trong quá trình từ vài phút đến một giờ. Huyết áp không tụt có nghĩa là, có thể có phản ứng phản vệ mà không bị sốc

Các dưỡng bào và bạch cầu ưa base được kích hoạt khi một kháng nguyên (ví dụ, penicillin) kết hợp với các vị trí kháng nguyên của immunoglobulin E (IgE). Các hoạt chất trung gian như histamin, leukotrien C4 (LTC4) và prostaglandin D2 (PGD2) nhanh chóng đi vào tuần hoàn. Trong một số trường hợp, các dưỡng bào được hoạt hóa không do IgE, chẳng hạn như có thể được kích hoạt sau tiêm cản quang hoặc các loại thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs); Đây được gọi là phản ứng phản vệ, nhưng các đặc tính sinh lý cơ bản và điều trị khác tương tự như sốc phản vệ qua trung gian IgE.

Suy sụp do sốc nhiễm trùng, rối loạn nhịp tim hoặc vô tâm thu cần phải cân nhắc. Lỗi phổ biến nhất  là không nhận ra phản xạ phế vị. Trong tình huống đó, mạch của bệnh nhân chậm và  không có nổi mề đay, phù, khó thở. Mạch luôn thay đổi nhanh trong sốc phản vệ trừ khi bệnh nhân đang dùng thuốc chẹn adrenergic hoặc có rối loạn dẫn truyền. Bệnh nhân tăng thông khí không thở khò khè hoặc tụt huyết áp. Tuy nhiên, xác định nguyên nhân phản vệ thường khó khăn

Mục lục

Case
 

Bệnh nhân nữ 18 tuổi vào cấp cứu vì khó thở, sưng, nổi mẩn ngứa. Ba giờ trước cô có ăn loại đậu hũ mà cô chưa bao giờ ăn trước đó. Ba mươi phút trước khi đi cấp cứu, cô đi tập thể dục thẩm mỹ, sau khởi đông 1 phút cô tiến hành tập. Trong vòng 10 phút, cô cảm thấy đỏ mặt, ngứa và khó thở, lan xuống cổ họng. Cô cho biết rằng cô chưa bao giờ trải qua các triệu chứng tương tự. Cô xuất hiện lo lắng và ra mồ hôi; thở 32 lần mỗi phút, mạch 108 lần/i phút và huyết áp 85/50 mmHg. Kiểm tra có nhiều tổn thương mày đay trên mặt và thân mình. lưỡi gà sưng và che lấp 1 phần thành họng sau. Thở rít, các thăm khám khác bình thường

Có một số yếu tố có thể đã kích hoạt phản ứng này. Mặc dù có thể nguyên nhân do IgE gây phản vệ. Các nguyên nhân có thể như nọc côn trùng đốt, thức ăn, cao su và các loại thuốc đặc biệt là thuốc kháng sinh. sốc phản vệ không qua IgE trung gian thường do thuốc cản quang, opioid, NSAID  và kích thích vật lý như tập thể dục và thực phẩm

Phản vệ qua IgE trung gian thường do nọc côn trùng hoặc thực phẩm là nguyên nhân phổ biến nhất ở mọi lứa tuổi. Các loại thực phẩm hay gây dị ứng ở trẻ em là sữa, trứng và đậu phộng. Ở người lớn là đậu phộng, các loại hạt, động vật có vỏ và cá. Có thể xảy ra dị ứng trong vòng vài phút hay vài giờ.

Hầu hết các trường hợp sốc phản vệ do thuốc không do IgE thường là kháng sinh penicillin. Trong phẫu thuật có thể do thuốc giãn cơ, an thần, kháng sinh, opioid. Aspirin và các NSAID là chất ức chế mạnh con đường cyclooxygenase của sự chuyển hóa acid arachidonic, có thể gây phản ứng nghiêm trọng lên đến 10% người có bệnh hen và 1% dân số nói chung. Ở những bệnh nhân hen suyễn, phản ứng gây co

thắt phế quản nặng; bệnh nhân không có bệnh hen suyễn có thể nổi mề đay, phù mạch, sốc phản vệ. Phản ứng với các thuốc này thường không qua IgE. Các cơ chế có thể liên quan đến sự ức chế cyclooxygenase và chuyển dịch của sự trao đổi chất arachidonate của con đường lipoxygenase. Không có xét nghiệm miễn dịch nào có thể phát hiện sự nhạy cảm này.

Tập thể dục có thể gây các phản ứng toàn thân, đặc biệt là mề đay (phát ban) được gọi là mề đay cholinergic nhưng hiếm khi tập thể dục gây ra sốc phản vệ.

Trong trường hợp này, không có tiền sử dùng thuốc và không tiếp xúc với côn trùng. Có thể nghĩ dị ứng với đậu nành vì đậu phụ đã tiêu hóa trong một thời gian ngắn trước khi xuất hiện phản vệ, là một loại thức ăn mới và có thể là tác nhân gây dị ứng.

Làm thế nào điều trị?

Có một giao thức thường được chấp nhận trong điều trị hội chứng quá mẫn cảm. Epinephrine là thuốc chính trong điều trị sốc phản vệ; nó hoạt động bằng cách ức chế tác dụng của dưỡng bào và bạch cầu ưa base, giãn cơ trơn phế quản và tăng huyết áp. Thông thường, tất cả các dấu hiệu và triệu chứng của sốc phản vệ giải quyết hoàn toàn trong vòng vài phút sau 1 mũi tiêm epinephrine nhưng những rối loạn sinh lý cơ bản tồn tại và các triệu chứng sẽ tái phát sau khi epinephrine được chuyển hóa. Ngay sau khi chẩn đoán sốc phản vệ nên bắt đầu liều 0.3mL 1:1000 epinephrine tiêm bắp, tốt nhất là ở đùi với người lớn và 0,01 mg / kg đối với trẻ em. Nếu không có tác dụng phụ xảy ra, bệnh nhân có thể dùng lặp đi lặp lại mỗi 10 phút cho đến khi các triệu chứng được cải thiện. Hiếm khi dùng 1-2 ml dung dịch pha loãng 1: 10.000 epinephrine truyền tĩnh mạch tuyến (IV) nhưng cẩn trọng vì nó có thể làmrối loạn nhịp tim gây tử vong. ở bệnh nhân rối loạn chính ở đường hô hấp trên có thể cho hít 2% epinephrin racemic có tác dụng với liệu pháp tiêm (liều 0,5 ml). Ngoài ra, kháng histamine H1 (ví dụ, diphenhydramine 50 mg) nên dùng từ từ bằng đường IV. bằng chứng gần đây cho thấy việc bổ sung kháng histamine H2, như

ranitidine 150 mg bằng cách tiêm truyền tĩnh mạch chậm có thể giải quyết nhanh hơn các biểu hiện dị ứng cấp tính. Nếu bệnh nhân có tắc nghẽn đường thở nghiêm trọng (tím tái) hoặc tắc nghẽn ngày càng nặng dù có sử dụng epinephrine, cần đặt nội khí quản nòng nhỏ (số 4 hoặc 5). Nếu không thể đặt NKQ hãy mở khí quản Sốc phản vệ ở những bệnh nhân đang dùng thuốc kháng alpha 1-adrenergic có thể đặc biệt khó điều trị. Nếu thở khò khè không đáp ứng  với hít epinephrine nên dùng glucagon. Những bệnh nhân có huyết áp thấp không đáp ứng với điều trị bằng epinephrine dưới da, kháng histamin và truyền dịch có thể tiêm dopamine, norepinephrine và glucagon.

Ở những bệnh nhân có triệu chứng ảnh hưởng đáng kể tới bất kỳ cơ quan đích nào, tiêm IV corticosteroid (Solu-Medrol, 1 mg / kg) nên dùng ngay lập tức, sau đó uống 6 giờ sau đó. Những bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng kéo dài nên tiếp tục dùng corticosteroid mỗi 6 giờ.

Theo dõi sau đó?

Tất cả các bệnh nhân có tiền sử phản vệ, cần có sẵn epinephrine để tự dùng (ví dụ như EpiPen 0,3 mg hoặc EpiPen Jr 0,15 mg Auto-injector) và  diphenhydramine (viên nang 25 mg). Trước khi ra viện, các thành viên gia đình bệnh nhân cần được đào tạo về cách dùng epinephrine và diphenhydramine và gọi 911 hoặc đưa cấp cứu ngay lập tức.

Bệnh nhân có tiền sử sốc phản vệ thức ăn nên luôn luôn mang theo epinephrine và diphenhydramine (Benadryl) vì khả năng tiếp xúc vô ý.

glucagon 1-5 mg hoặc 20-30 mg / kg ở trẻ em (liều ở trẻ sơ sinh tối đa 1 mg) tĩnh mạch trong 5 phút và sau đó duy trì tĩnh mạch 5-15 mg / phút. Sử dụng glucagon khi sốc phản vệ với thuốc cản quang, beta blocker hoặc alpha 1- agonist. Khi sốc phản vệ không đáp ứng tốt với epinephrine thì chuyển dùng glucagon theo hướng dẫn bên trên


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net