O | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa O | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa

Chú giải thuật ngữ y học anh việt thông dụng

O



Oat cell carcinoma : một loại ung thư ở khí quản, tế bào hình tròn hay bầu dục nhỏ như hạt yến mạch, thường xảy ra cho người hút thuốc lá. Chữa trị bằng thuốc chống ung thư và xạ trị, nhưng tiên liệu rất xấu.

Obesity : béo phì do có quá nhiều mỡ trong cơ thể, cân lượng trên 20% số phải có so với chiều cao. Có thể dùng chỉ số khối thân thể (body mass index, BMI) để dịnh loại béo phì, trung bình hay nhẹ cân lượng v.v.

BMI = cân lượng (kí lô) chia cho bình phương chiều cao (mét). Ví dụ nặng 64 kí, cao1.6 mét, BMI sẽ là : 64 / 1.6 x 1.6 = 25. Từ 20 đến 25 là cân lượng trung bình, dưới 20 là nhẹ cân, 26 đến 30 là hơi nặng cân (overweight), 31 đến 40 là béo phì còn trên 40 là thuộc loại quá béo.

Nguyên nhân chưa được rõ lắm, có thể là di truyền, cha mẹ béo phì thì con cái sẽ mắc phải 10 lần nhiều hơn bình thường ; rối loạn chức năng của tuyến nội tiết ; ăn uống vô độ, ăn tạp, lười vận động.

Biến chứng của béo phì gồm có : cao huyết áp, bệnh tim mạch, trúng phong, tiểu đường, viêm xương khớp (osteoarthritis), ung thư ruột già, tuyến tiền liệt, vú, buồng trứng v.v.

Obsession : (tâm lý) sự ám ảnh.

Obsessive compulsive disorder, OCD : (tâm thần) một loại rối loạn tâm thần (neurosis), bệnh nhân bị ám ảnh rồi thôi thúc phải hành động để giải tỏa nó đi. Họ ý thức rằng ám ảnh này là vô nghĩa, điên rồ, cố xua đuổi nhưng không thoát được. Ví dụ ám ảnh bị nhiễm trùng nên rửa tay hoài, ra khỏi nhà rồi lại trở vào nhiều lần để xem lò gas đã tắt chưa v.v. Ðiều này gây cho họ nhiều khó khăn trong công việc làm, trong sự giao tiếp với người khác.

Chữa trị bằng tâm lý liệu pháp thay đổi ý thức và cách cư xử hành động (cognitive behavioural therapy), đôi khi kèm với thuốc chống trầm uất (antidepressant).

Obstetrics / obstetrician : (sản phụ khoa) ngành y khoa chuyên về việc chăm sóc phụ nữ trong thời gian mang thai, lúc sinh và khoảng 6 tuần sau khi sinh / bác sĩ sản khoa.

Obstructive sleep apnoea : tình trạng hơi thở hít vào bị giới hạn lúc đang ngủ, kèm theo tiếng ngáy to và lượng khí oxi máu xuống thấp, có thể ảnh hưởng đến hoạt động của tim.

Nguyên nhân : ở trẻ con thường do to a mi đan và mô hạch huyết vòm hầu (adenoids), người lớn là do quá béo phì, có bất thường ở họng, ví dụ họng bị hẹp, lưỡi to…

Occlusion : 1- sự tắc, đóng lại của một cơ quan rỗng. 2- (nha khoa) răng hàm trên và hàm duới cắn khít nhau. Xem chữ malocclusion.

Occult : không thấy được với mắt thường, ví dụ faecal occult blood = máu có rất ít trong phân, chỉ tìm thấy khi nhìn qua kính hiển vi, thử nghiệm hóa học.

Occupation diseases : bệnh do nghề nghiệp gây ra.

Occupational therapy : khoa chữa trị giúp bệnh nhân về thể chất hoặc tâm thần phục hồi lại phần nào chức năng đã mất, để trở lại cuộc sống bình thường. Các công tác gồm làm vườn, thủ công, thêu may, in ấn, làm đồ gốm, đồ gỗ các trò vui giải trí (cho người có tuổi) v.v. Khoa cũng xét cấp trợ cụ, trang bị thích hợp cho người bệnh tại nhà họ.

Ocular : thuộc về mắt hoặc sự nhìn thấy.

Oculogyric crisis : tình trạng mắt trợn ngược lên và nhìn thẳng vào một chỗ trong vòng nhiều phút đến hàng giờ, có thể xảy ra cho những người bị chứng giống như bệnh Parkinson (parkinsonism), viêm não, uống thuốc chữa bệnh tâm thần phân liệt loại Phenothiazine.

Oedema : sưng phù, nước tụ lại nhiều một cách bất thường trong mô cơ thể. 1- tại một vùng giới hạn, ví dụ bị chấn thương, viêm sưng. 2- tại nhiều nơi, xảy ra trong suy tim, suy thận, chai gan, viêm thận, hội chứng hư thận (nephrotic syndrome), đói vì thiếu ăn, bị dị ứng, sử dụng môt vài loại thuốc như corticosteroid, phenylbutazone. Trong các trường hợp nặng, nước có thể tụ ở màng phổi (pleural effusion), trong bụng (cổ trướng, ascites), trong nang phổi (phù phổi, pulmonary oedema).

Oedipus complex : (tâm lý) mặc cảm Oedipus. Khoa phân tâm cho đó là một sự đè nén ý tưởng tình dục xảy ra trong vô thức của đứa bé đối với cha/mẹ khác phái với nó, kèm theo là sự ghen tương, ghét bỏ cha/mẹ cùng phái.

Sigmund Freud (một nhà phân tâm học người Áo) cho rằng mặc cảm Oedipus (với con gái, đôi khi được gọi là mặc cảm Electra) xảy ra cho mọi trẻ và sẽ chấm dứt khi chúng không còn ý tưởng trên nữa, kèm theo là sự đồng hóa (identification) với cha mẹ cùng phái và về sau là sự gắn bó với người khác phái ngoài xã hội.

Sự ngưng phát triển ở giai đoạn Oedipus được coi là nguyên nhân của các chứng thác loạn tình dục (sexual deviation) và rối loạn tâm thần (neurosis).

Oesophageal atresia : tật bẩm sinh của trẻ sơ sinh, một đoạn của thực quản teo lại, không phát triển, nên uống vào lại nôn ra, cần phải xử lý khẩn cấp.

Oesophageal diverticulum : túi phình bất thường ở phần trên (pharyngeal pouch) và giữa của thực quản. Túi phần trên gây nuốt khó, nôn mửa, hơi thở có mùi hôi, chữa trị bằng cách cắt bỏ túi ; túi phần giữa thường không có triệu chứng và không cần chữa trị.

Oesophageal stricture : hẹp trít thực quản, gây nuốt khó và đau, nôn mửa, sút cân. Nguyên nhân : ung thư thực quản, viêm thực quản do dịch dạ dày trào lên, uống phải chất phỏng cháy. Chữa trị bằng cách nông rộng thực quản, mổ cắt bỏ đoạn trít, mở dạ dày (gastrostomy) đặt ống để cho thức ăn vào nếu quá già yếu.

Oesophageal ulcer : loét thực quản.

Oesophageal varices : phình tĩnh mạch ở phần cuối thực quản do áp suất của tĩnh mạch cửa tăng cao (portal hypertension) trong bệnh chai gan, các bệnh về gan khác, tắc tĩnh mạch cửa do cục máu đông.

Phình mạch có thể vỡ ra gây chảy máu xối xả.

Oesophagitis : Viêm thực quản. Nguyên nhân : 1- (thường thấy nhất) dịch dạ dày trào lên, gây đau nóng ở ngực, ợ chua, khó nuốt, biến chứng gồm loét, chảy máu, trít hẹp  thực quản. Chữa trị với thuốc kháng a xít, bệnh nhân nên giảm cân lượng, tránh cúi gập người xuống, đôi khi phải mổ. 2- do ăn uống phải chất có a xít hay kiềm. Ðây là một trường hợp nặng có thể làm thủng hay trít hẹp thực quản, chữa trị gồm ngưng ngay các thức ăn trên, dùng kháng sinh, corticosteroid, và sau đó có thể phải nông rộng thực quản. 3- viêm do nhiễm trùng, thường thấy nhất là nhiễm nấm Candida ở các bệnh nhân suy nhược, đôi khi là siêu khuẩn Cytomegalovirus hay Herpes.

Oesophagoscope : dụng cụ quang học có đèn chiếu sáng, dùng khảo sát mặt trong của thực quản, lấy vật lạ ra, sinh

thiết thực quản, nông rộng thực quản khi bị trít hẹp. Dụng cụ có thể là một ống cứng hoặc bằng sợi dẻo.

Oesophagus : thực quản, dài khoảng 23cm, chạy từ họng xuống dạ dày, bên trong là lớp màng nhầy tiết dịch làm trơn thực phẩm nuốt vào. Các cơn go bóp của thực quản cũng giúp đẩy thức ăn xuống.

Oestrogen : một trong nhóm hóc môn steroid (gồm oestriol, oestradiol, oestrone) kiểm soát sự phát triển tình dục ở phụ nữ, giúp cơ quan sinh dục tăng trưởng và hoạt động. Oestrogen     chủ yếu do buồng trứng tổng hợp, một số ít được sản xuất ở tuyến thượng thận, tinh hoàn và lá nhau. Ðàn ông sản sinh quá nhiều oestrogen sẽ bị chứng nữ hóa (feminization).

Oestrogen dùng chữa chứng vô kinh (amenorrhoea), biến chứng xảy ra lúc mãn kinh, ung thư lệ thuộc vào hóc môn, ví dụ ung thư tuyến tiền liệt, và để làm ngưng sữa tiết ra. Oestrogen cũng là thành phần chính của thuốc ngừa thai.

Phụ chứng : buồn nôn, mửa, nhức đầu, choáng váng, xuất huyết không đều ở âm đạo, chất muối và nước giữ lại nhiều trong cơ thể nên chân dễ bị sưng phù. Phụ nữ bị ung thư vú, tử cung không nên dùng nó.

Oestrogen receptor : (sản phụ khoa) điểm đặc hiệu có trên mặt của một tế bào, có khả năng gắn dính với oestrogen, giúp tế bào đó tiếp nhận hóc môn này.

Thuốc đề kháng với hóc môn oestrogen (anti-oestrogens) dùng trị ung thư vú, ví dụ

Tamoxifen, tác động bằng cách ngăn không cho oestrogen gắn dính vào các điểm trên.

Olfaction : sự ngửi mùi.

Olfactory nerve : (thần kinh) dây thần kinh sọ thứ nhất đặc trách về ngửi mùi, gồm nhiều nhánh từ niêm mạc khoang mũi đi xuyên qua những lỗ nhỏ ở đáy hộp sọ, vào hành khứu giác (olfactory bulb) rồi dây thần kinh khứu giác để chạy lên não.

Hư tổn niêm mạc mũi do dị ứng, viêm xoang mũi (sinusitis), gẫy xương đáy hộp sọ gây ảnh hưởng đến khứu giác nên bệnh nhân không còn biết mùi nữa.

Olig-, oligo- : tiếp đầu ngữ chỉ ít, thiếu, ví dụ oligomenorrhoea

= có kinh máu ra ít.

Oligohydramnios : (sản phụ khoa) tình trạng ít nước ối (0- 200ml) vào các tháng cuối thai kỳ, thường kết hợp với bào thai

chậm phát triển hoặc có những bất thường ở thận.

Oligospermia : tinh trùng có ít (dưới 20 triệu trong 1ml tinh dịch), kém di động, còn non chưa trưởng thành, hình dạng bất thường.

Trung bình, tinh dịch chứa 60 triệu tinh trùng trong mỗi mililít, với khoảng 80% di động nhanh và hình dạng bình thường.

Oliguria : tiểu ít, do ra mồ hôi nhiều, mất máu, tiêu chảy, trúng độc, nước tụ lại trong mô (sưng phù), hư tổn ở thận.

Omentum : màng nối phúc mạc, cùng nghĩa với epiploon.

Oncofetal antigen : một chất đạm do bào thai, do một số u ác tính sản xuất, ví dụ CEA (carcino-embryonic antigen) trong ung thư ruột già.

Oncogenic : mô tả một chất, sinh vật, môi trường v.v. là tác nhân của ung thư. Một số siêu khuẩn được coi là có khả năng gây ung thư, ví dụ humanpapilloma virus (HPV) gây mụn cơm (wart) và ung thư cổ tử cung, Epstein-Barr virus gây ung thư vòm hầu.

Oncology / oncologist : ngành nghiên cứu và chữa trị u bướu độc / bác sĩ chuyên ngành.

Onych-, onycho- : tiếp đầu ngữ chỉ móng tay/chân, ví dụ onychomycosis = nhiễm nấm ở

móng tay/chân.

Oo- : tiếp đầu ngữ chỉ trứng, buồng trứng, ví dụ oophorectomy = cắt bỏ buồng trứng.

Oophoritis (ovaritis) : (sản phụ khoa) viêm buồng trứng, có thể kết hợp với nhiễm khuẩn vòi trứng hoặc vùng bụng dưới.

Ophthalmia : viêm mắt, đặc biệt là ở kết mạc (conjunctiva). Sympathetic ophthalmia là viêm màng mạch nho (uvea) ở cả hai bên mắt, xảy ra sau khi bị chấn thương, một số ít trường hợp do mổ mắt.

Ophthalmia neonatorium : một loại viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh, mắt nhiễm bệnh lúc sinh, thường do khuẩn lậu mủ, khuẩn Chlamydia có trong âm đạo sản phụ.

Ophthalmology / ophthalmologist : nhãn khoa, ngành nghiên cứu và điều trị bệnh mắt / bác sĩ chuyên ngành.

Ophthalmoscope : dụng cụ dùng soi bên trong mắt. Scanning laser ophthalmoscope = máy dùng laser xem bên trong mắt, hình đáy mắt hiện ra trên màn ảnh computer.

Opiate : nhóm thuốc có nguồn gốc từ thuốc phiện, gồm Apomorphine, Codeine, Morphine Papaverine, làm giảm đau, cắt cơn ho, gây buồn nôn. Quan trọng nhất là Morphine và chất tổng hợp Heroin từ Morphine, gây cảm giác sảng khoái đưa đến tình trạng sững sờ.

Opium : thuốc phiện, có tác động giảm đau, gây buồn ngủ, vì có chứa morphine.

Optic : thuộc mắt, thị giác.

Optic atrophy : (thần kinh) thoái hóa thần kinh thị giác, do bệnh trong mắt, do tổn thương dây thần kinh thị giác vì chấn thương, vì viêm.

Optic chiasma : (thần kinh) giao thoa thị giác, cấu trúc hình chữ X do hai dây thần kinh thị giác tạo nên. Các dây này từ nhãn cầu đi về phía sau và bắt chéo nhau tại đường giữa não, gần tuyến yên, rồi chạy ra sau não ở phần thùy chẩm (occipital lobe).

Optic disk : (thần kinh) đĩa thị giác, vùng bắt nguồn của dây thần kinh thị giác, nơi các sợi thần kinh từ các tế bào hình nón và hình que của võng mạc rời khỏi nhãn cầu.

Optician : chuyên viên kính mắt.

Optic nerve : (thần kinh) dây thần kinh sọ thứ hai trách nhiệm về thị giác. Mỗi dây thần kinh nhận thông tin từ các tế bào hình nón và hình que trong võng mạc, rồi đi vào hộp sọ phía sau nhãn cầu để đến chỗ giao thoa, sau đó chạy vào thùy chẩm ở mỗi bên não.

Optic neuritis : (thần kinh) viêm thần kinh thị giác sau nhãn cầu, một trong các triệu chứng của bệnh đa xơ hóa thần kinh (multiple sclerosis).

Oral contraceptive : (sản phụ khoa) thuốc uống ngừa thai, kết hợp hóc môn oestrogen và hóc môn progestogen. Có loại chỉ thuần là progestogen mà thôi.

Phụ chứng : nhức đầu, lên cân, buồn nôn, máu dễ đông cục nhất là ở tĩnh mạch chân, nguy cơ ung thư vú có tăng chút đỉnh. Kết quả ngừa thai đạt đến 98%, nếu uống thuốc đều

Orbit : ổ mắt, xoang trong hộp sọ chứa mắt.

Orchitis : viêm tinh hoàn, gây đau và sưng đỏ ở bìu dái, có thể kết hợp với viêm mào tinh hoàn (epididymis), Nhiễm trùng thường lan xuống theo ống dẫn tinh, một số trường hợp do quai bị, chứng này nếu ảnh hưởng đến cả hai tinh hoàn có thể gây vô sinh.

Organic disorders : rối loạn hữu cơ, một rối loạn có nhiều thay đổi về cấu trúc của một cơ quan hay mô. So sánh với rối loạn chức năng (functional disorders).

Orientation : (tâm lý) định hướng, sự nhận thức được thời gian, không gian và nơi chốn. Ðịnh hướng có thể bị rối loạn trong trường hợp nhiễm độc dược phẩm, bệnh ở não, chấn thương đầu.

Ornithosis : bệnh nhiễm trùng của chim, đặc biệt là bồ câu, do khuẩn Chlamydia, có thể lây sang người, triệu chứng giống như sưng phổi.

Orthodontics : khoa chỉnh hình răng hàm.

Orthopedics : khoa chỉnh hình xương và khớp.

Orthopnoea : khó thở khi nằm xuống, nên bệnh nhân phải ngủ chống dựa lưng lên hoặc phải ngủ ngồi.

Orthostatic : tư thế đứng. Orthostatic hypotension = giảm huyết áp khi đứng thẳng.

Ost-, oste-, osteo- : tiếp đầu ngữ chỉ xương, ví dụ osteogenesis (ossification) = sự tạo xương.

Osteitis : viêm xương do nhiễm trùng, do tổn hại ở xương, rối loạn chuyển hóa, ví dụ bệnh tăng năng tuyến cận giáp (hyperparathyroidism).

Osteoarthritis : viêm xương khớp, bệnh của sụn kết hợp với hư tổn các cấu trúc khớp và thay đổi về xương như gai xương mọc ra, xương bị lệch đi. Bệnh gây sưng đau, cử động bị giới hạn, đôi khi có tiếng cót két nghe được.

Thường xảy ra cho người quá tuổi trung niên, nữ nhiều hơn nam, tại cổ, vai, khuỷu và cổ tay, các ngón tay, phần lưng dưới, khớp háng và gối, cổ chân. Yếu tố tạo điều kiện là sử dụng khớp quá tải, chấn thương, bệnh về khớp như viêm khớp dạng thấp (rheumatoid arthritis) v.v.

Ðịnh bệnh qua khám lâm sàng, chụp Xquang, phim cho thấy khoảng cách giữa hai khớp hẹp lại, bờ xương không đều, gai xương. Về điều trị, chưa có phương cách chữa dứt hẳn, các triệu chứng được làm dịu bớt

với thuốc chống viêm đau, steroid tiêm vào khớp, vật lý liệu pháp, giảm áp suất trên khớp bằng cách sụt cân, chống gậy, mang giày đặc biệt, đeo bao plastic ở cổ, bao đàn hồi ở đầu gối, phẫu thuật đặt khớp giả vào (joint-replacement surgery) hoặc làm cứng khớp (arthrodesis).

Osteoblast / osteoclast : tạo cốt bào, có nhiệm vụ tạo xương / hủy cốt bào.

Osteochondroma : u xương gồm tế bào tạo ra sụn, không gây đau nhức, thường xảy ra ở phần cuối xương dài. Vì một số ít có thể trở thành ác tính, nên các khối u này đều được mổ cắt bỏ đi

Osteodystrophy : loạn dưỡng xương, do rối loạn chuyển hóa của một cơ quan trong cơ thể bị tổn hại. Ví dụ suy thận mạn tính ảnh hưởng đến xương, gây mất chất xương, trong xương có nang (cyst).

Osteogenesis imperfecta : chứng bẩm sinh do mô liên kết không phát triển đầy đủ nên xương trở nên giòn và dễ gẫy ở nhiều nơi, hay tái đi tái lại. Hậu quả là xương tay chân của đứa bé cong queo và ngắn bớt.

Osteoma : u xương lành tính xảy ra ở xương đùi, xương tay, thường là vô hại, nhưng đôi khi

đè lên các cơ quan xung quanh gây ra nhiều bệnh chứng. Chữa trị bằng cách cắt bỏ u đi.

Osteomalacia : chứng nhuyễn xương ở người lớn vì thiếu vitamin D, do ăn uống không đầy đủ, do ít ra nắng hoặc do cả hai. Mô xương mất calcium đi, xương trở thành mềm và dễ gẫy.

Osteomyelitis : viêm xương và tủy xương, thường do khuẩn Staphylococcus aureus từ một vết thương ngoài da hoặc một nơi khác, ví dụ cổ họng, theo máu chạy đến. Bệnh thường xảy ra ở xương chân, tay, xương sống, xương chậu.

Trong trường hợp cấp tính, chỗ xương nhiễm trùng bị viêm rồi làm mủ, phần mềm xung quanh sưng lên gây sốt và đau nhức. Nếu không được chữa trị đúng mức, tình trạng viêm mạn tính sẽ xảy ra, một phần xương bị mục, mủ thoát ra theo lỗ rò. Hậu chứng là xương biến dạng, các cơ quan trong cơ thể thoái hóa dạng tinh bột (amyloidosis) gây đủ loại bệnh. Chữa trị : mổ nạo xương mục kết hợp với ghép xương, kháng sinh.

Một số ít trường hợp viêm xương và tủy là do khuẩn lao từ phổi theo đường máu chạy đến xương sống, mủ từ đó rỉ ra và ép vào tủy sống gây liệt chân tay.

Osteopathy : thuật nắn xương, dựa trên lý thuyết cho rằng hầu hết các bệnh đều do xương bị chuyển dịch khỏi vị trí đúng của nó. Chữa trị bằng thao tác xoa nắn giúp giảm được nhiều chứng bệnh của xương và khớp.

Osteophyte : gai xương, thường mọc ra tại các nơi sụn khớp bị thoái hóa, ví dụ xương sống, xương đầu gối. Ðây là một nét đặc hiệu của viêm xương khớp (osteoarthritis), nhưng tự nó không phải là nguyên nhân hay triệu chứng của bệnh này.

Osteoporosis : loãng xương, xương giòn và dễ gẫy, thường xảy ra nhất ở cổ tay, cổ xương đùi, xương sống.

Loãng xương toàn diện xảy ra cho người già, phụ nữ sau khi mãn kinh, cho những ai dùng thuốc steroid lâu ngày ; một số ít trường hợp là do hội chứng Cushing có u bướu mọc ở tuyến yên, tuyến thượng thận.

Việc định bệnh đo tỷ trọng xương (bone density) được tiến hành bằng cách dùng Xquang phối hợp với điện toán (quantitative digital radiography), hoặc dùng DEXA (dual energy Xray absorptiometry).

Chữa trị : năng vận động, uống thêm calcium và vitamin D, dùng hóc môn thay thế (hormone replacement therapy, HRT) đối với phụ nữ, thuốc Biphosphonate.

Osteosarcoma : ung thư xương, thường xảy ra cho trẻ con và thanh thiếu niên, nguyên nhân không rõ ; ở người già, ung thư có liên hệ với bệnh Paget xương.

Bệnh phát khởi tại các xương dài của chân tay, quanh đầu gối và vai. Triệu chứng : đau nhức, sưng phần mềm xung quanh. Ung thư di căn đến phổi.

Chữa trị : cắt bỏ chi ; trong vài trường hợp, cắt đoạn xương bị ung thư rồi thay vào đó bằng xương ghép hoặc xương nhân tạo. Ngoài ra, thuốc chống ung thư cũng được sử dụng để diệt các tế bào ung thư di căn đến các nơi khác trong cơ thể.

Otitis : viêm tai, gồm : 1- viêm tai ngoài (otitis externa) do khuẩn,

nấm, bệnh chàm (eczema). 2- viêm tai giữa (otitis media) do khuẩn/siêu khuẩn từ phần trên của cơ quan hô hấp lan lên ống Eustache làm tắc trít ống này lại, nên dịch tiết ở tai giữa không có lối thoát. Viêm cấp tính gây sốt, nhức đầu, ù và đau trong tai, chóng mặt ; các triệu chứng sẽ bớt khi màng nhĩ bị thủng. Trong viêm mạn tính, mủ thường xuyên chảy ra từ chỗ thủng, gây viêm tai ngoài, hư các xương nhỏ tai giữa, viêm xương chủm (mastoiditis), tụ mủ cục bộ ở não (brain abscess). Viêm tai giữa loại có dịch nhờn (glue ear), thường xảy ra cho trẻ con, dịch tích tụ lâu ngày ở đấy gây giảm thính lực, cần được xẻ màng nhĩ (myringotomy) đặt ống thông. 3- viêm tai trong (otitis interna, labyrinthitis) là một bệnh bộc phát gồm các triệu chứng như buồn nôn, mửa, chóng mặt, mất thăng bằng, tai ù và kém nghe.

Otology : khoa học về các bệnh của tai. Otorhinolaryngology : khoa tai mũi họng. Otorrhoea : dịch tiết ra từ tai.

Otosclerosis (otospongiosis) : một bệnh của tai giữa gây giảm dần thính lực, kèm với ù tai chóng mặt. Nguyên nhân : xương nhỏ hình bàn đạp (stapes) của tai giữa bị xơ cứng mất sự chuyển động bình thường, nên âm thanh không truyền vào tai trong được. Chữa trị : mổ cắt bỏ xương ấy (stapedectomy) và thay bằng một thiết bị plastic hoặc kim loại.

Ototoxic : độc hại cho tai, gây ù tai chóng mặt. Nguyên nhân là thuốc như Quinine (chống sốt rét), Aspirin, một vài loại kháng sinh như Streptomycin, Neomycin, Gentamycin v.v.

Ovarian cancer : (sản phụ khoa) ung thư buồng trứng, thường xảy ra sau khi mãn kinh. Loại ung thư này ít có triệu chứng báo hiệu lúc mới phát nên khó định bệnh sớm được.

Ovarian cyst : (sản phụ khoa) u nang buồng trứng, 95% là lành tính, chứa đụng dịch loãng, đôi khi có da, xương, răng trong đó (dermoid cyst). U nang với cuống dài có thể bị xoắn lại phải mổ khẩn cấp.

Ovary : (sản phụ khoa) buồng trứng, gồm hai cái ở hai bên tử cung. Trong buồng trứng có nhiều nang (follicle), ở đó trứng phát triển đến khi chín tới sẽ rụng ra (thường là ngày thứ 14 trước kỳ kinh sắp đến, đối với phụ nữ có kinh đúng ngày) và rơi vào vòi trứng.

Nang tiết ra hóc môn nữ oestrogen và một ít hóc môn nam androgen. Sau khi trứng rụng, nang biến thành thể vàng (corpus luteum) tiết ra hóc môn progesterone. Hai hóc môn oestrogen và progesterone điều hợp các thay đổi của tử cung vào mỗi kỳ kinh nguyệt và lúc mang thai.

Oviduct (Fallopian tube) : (sản phụ khoa) vòi trứng.

Ovulation : (sản phụ khoa) sự rụng trứng.

Ovum (egg cell) : trứng, tế bào sinh dục nữ đã trưởng thành.

Oxidant : chất từ tế bào bị tổn hại phóng thích ra, có hại cho cơ thể nếu quá nhiều. Chất đối kháng (antioxidant) gồm vitamin C, beta carotene và vitamin D.

Oxyhaemoglobin : hợp chất haemoglobin của hồng cầu và khí oxi, có khả năng chuyên chở khí này đến các mô.

Oxytocin : hóc môn của tuyến yên (pituitary gland) giúp tử cung go bóp khi sinh, và kích thích sữa chảy ra.

Ozaena : viêm thối mũi có đóng vảy, do niêm mạc mũi bị teo lại (atrophic rhinitis).

Ozone : lớp khí trong khí quản ở độ rất cao, có khả năng ngăn cản phần lớn các bức xạ cực tím (ultraviolet radiation). Lớp khí này nếu mất đi, quả đất sẽ phải chịu một số lượng lớn bức xạ cực tím, gây nguy cơ cho sức khoẻ, đặc biệt là ung thư da.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net