H | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa H | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa

Chú giải thuật ngữ y học anh việt thông dụng

H



Haem : một hợp chất chứa sắt kết hợp với đạm globin, tạo ra haemoglobin trong hồng cầu.

Haem-, haema-, haemo-, haemato- : tiếp đầu ngữ chỉ về máu, ví dụ haemophilia = chứng sợ máu.

Haemangioma : u lành tính ở các mạch máu li ti, thường xuất hiện trên mặt trẻ sơ sinh dưới dạng vết bớt đỏ (strawberry haematoma) và tự nhiên hết trong vài năm đầu.

Haemarthrosis : chảy máu ở khớp, do chấn thương hoặc tự phát, trong bệnh ưa chảy máu của con trai (haemophilia).

Haematemesis : thổ huyết, có thể là máu từ mũi chảy xuống rồi nuốt vào, nhưng thường là do giãn tĩnh mạch ở thực quản, viêm dạ dày, loét dạ dày và tá tràng.

Haematocolpos : (sản phụ khoa) máu tích tụ trong âm đạo vì màng trinh không có lỗ thoát.

Haematology / haematologist : ngành y chuyên nghiên cứu về máu và mô tạo máu, cùng các rối loạn liên hệ / bác sĩ chuyên khoa.

Haematoma : ổ tụ huyết, máu tích tụ trong mô và đông lại thành một u cứng. Nguyên nhân : chấn thương, bệnh của mạch máu, rối loạn về đông máu. Về ổ tụ huyết trong hộp sọ, xem chữ brain haemorrhagia.

Haematuria : đái ra máu. Nguyên nhân : nhiễm khuẩn cơ quan bài tiết, sạn và u thận, bọng

đái, viêm thận và mao mạch thận (glomerulonephritis), rối loạn về máu.

Haemodialysis : thẩm tách máu, một kỹ thuật dùng máy (dialiser) để loại chất thải, chất độc tích tụ trong máu, do thận suy không hoạt động hữu hiệu.

Haemoglobin : huyết sắc tố làm cho hồng cầu có màu đỏ, thành phần là haem chứa sắt và đạm globin gồm hai loại alpha và beta. Haemoglobin được tạo ra trong tủy xương, chức năng là chuyên chở khí oxi đi khắp thân thể. Lượng trung bình : 12-18g/dl.

Haemoglobinopathy : bệnh di truyền, có sự bất thường về sản xuất haemoglobin, xảy ra trong bệnh thiếu máu vùng bể (thalassaemia), bệnh hồng cầu lưỡi liềm (sickle cell disease).

Haemoglobinuria : trong nước tiểu có haemoglobin, khi hồng cầu bị phân hủy quá nhiều, xảy ra sau khi luyện tập mất sức, trong bệnh sốt rét đái nước đen (black water fever), nhiễm độc hóa chất, ví dụ arsenic, chấn thương nặng phần mềm.

Haemogram : huyết đồ gồm kết quả các thử nghiệm máu thường lệ như nồng độ

haemoglobin, thể tích hồng cầu, số lượng hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu.

Haemolytic anaemia : thiếu máu do hồng cầu sớm bị phân hủy (haemolysis). Nguyên nhân : hồng cầu có khuyết điểm như hồng cầu lưỡi liềm, hình quả cầu (spherocyte), thiếu hụt men G6PD bảo vệ ; hồng cầu vỡ khi máu chảy qua những thiết bị gắn ở tim, ví dụ van tim giả ; truyền máu không đúng loại ; bệnh miễn nhiễm về máu ; nhiễm trùng nhất là sốt rét.

Haemolytic disease of the newborn : bệnh tan huyết trẻ sơ sinh, do kháng thể của mẹ truyền qua lá nhau khi còn trong giai đoạn bào thai, kháng thể được tạo ra nếu bào thai có máu loại Rh dương (Rh+) còn mẹ là Rh âm (Rh-). Bệnh gây cho đứa bé thiếu máu, vàng da, nặng hơn nữa là thân hình phù to lên (hydrops fetalis), hoăc chết trong bụng mẹ.

Chữa trị : truyền máu Rh- nhiều lần vào cuống rốn hoặc tim của bào thai cho đến khi đủ trưởng thành để sinh ra. Sau khi sinh, nếu vàng da, chữa bằng ánh sáng (phototherapy) hoặc thay máu (exchange transfusion). Về phòng ngừa, tiêm anti-D immunoglobin cho bà mẹ máu Rh- liền sau khi sinh hoặc bị sẩy thai, để tiêu hủy hồng cầu Rh+ của hài nhi đã truyền qua, hầu tránh trường hợp bệnh tan huyết cho đứa con Rh+ trong lần sinh tới.

Haemopericardium : máu tràn trong bao tim, do chấn thương, do phần bị kích tim bị vỡ. Cần phải mổ khẩn cấp để máu thoát ra.

Haemoperitoneum : máu trong xoang bụng.

Haemophilia : bệnh ưa chảy máu, một rối loạn về gin gây thiếu hụt yếu tố đông máu VIII nên máu đông lại rất chậm. Bệnh nhân bị chảy máu kéo dài khi bị thương, hoặc chảy máu tự phát trong cơ bắp, trong khớp.

Bệnh chỉ xảy ra cho phái nam, phụ nữ mang mầm bệnh rồi truyền sang cho con trai.

Haemophilus influenzae : một loại khuẩn gây nhiều trường hợp nhiễm trùng nặng cho trẻ con, như viêm tiểu thiệt (epiglottitis), viêm màng não. Thuốc ngừa khuẩn thường xảy ra nhất là Haemophilus influenzae B (Hib vaccine) đã được sử dụng từ năm 1993 để tiêm phòng cho trẻ con.

Haemopneumothorax : tràn máu và khí trong màng phổi, thường là do chấn thương, cần phải dẫn lưu để phổi nở ra bình thường.

Haemoptysis : ho ra máu

Haemorrhage : chảy máu ra bên ngoài hoặc bên trong cơ thể, khi một mạch máu bị đứt.

Haemorrhoids : trĩ (lòi dom), do tĩnh mạch thành hậu môn giãn to ra, nguyên nhân thường là táo bón lâu ngày, tĩnh mạch bẩm sinh bị yếu.

Trĩ xảy ra ở ba điểm chính cách đều nhau quanh vòng hậu môn, và có 3 loại : trĩ độ một nằm bên trong hậu môn, độ hai lòi ra ngoài nhưng tự rút lên, độ ba lòi ra nhưng cần phải đẩy vào. Triệu chứng chính là có máu tươi khi đại tiện, đôi khi chất nhờn tiết ra ở hậu môn. Biến chứng gồm thiếu máu vì mất chất sắt, trĩ bị thắt siết làm máu đông lại bên trong gây nhức nhối khó chịu vô cùng, vùng quanh hậu môn sưng to lên.

Chữa trị : tránh táo bón, ăn nhiều rau quả có chất xơ sợi ; đặt vào hậu môn thuốc hoặc kem chứa steroid và thuốc tê giúp giảm đau, bớt viêm sưng ; tiêm thuốc teo trĩ (sclerotherapy), dùng hơi lạnh cao độ (cryosurgery) ; buộc trĩ (bandage) ; cắt bỏ trĩ.

Haemostasis : sự cầm máu.

Haemothorax : tràn máu vào nang màng phổi, thường do chấn thương. Nếu không dẫn lưu máu, hai lớp màng phổi sẽ dính lại với nhau, phổi không chuyển động bình thường được.

Halitosis : hơi thở có mùi hôi. Nguyên nhân : ăn thực phẩm nặng mùi như tỏi, hành ; thở bằng mồm vì bị nghẹt mũi ; nhiễm trùng ở mũi, họng và phổi ; răng sâu, nướu răng sưng ; táo bón, ăn không tiêu ; vài loại bệnh gan.

Hallucination : (tâm thần) hư giác, nhận thức sai của giác quan về những sự việc không có thật. Có nhiều loại : hư giác về nghe (auditory hallucination), nghe tiếng thì thầm trong tai, hư giác về thấy (visual hallucination), thấy vật nhỏ đi hoặc to ra, hư giác về ngửi (olfactive hallucination), cho rằng thân hình mình tỏa ra mùi thối, hư giác về vị giác (gustatory hallucination) ngọt thì cho là chua, đắng, hư giác về sờ mó (tactile hallucination) luôn có cảm giác như kiến bò.

Các loại hư giác trên có thể xảy ra trong bệnh tâm thần phân liệt, hưng cảm (mania), động kinh do vùng thái dương của não bị tổn hại, trúng phong (stroke), sử dụng ma túy.

Hallucinogen : thuốc hoặc chất sinh hư giác, ví dụ cần sa, LSD, mescaline, rượu uống quá nhiều.

Hallux valgus : ngón chân cái nhô ra và lệch về phía các ngón khác. Bìu (bursa) chứa hoạt dịch ở khớp ngón cái-xương thứ nhất bàn chân có thể bị sưng đau (bunion) nếu mang giày không vừa chân.

Hammer toe : ngón chân cán búa, thường là ở khớp thứ nhất của ngón thứ hai bị gập vào, bên trên có chai rất đau. Nếu mang giày điều chỉnh không giải quyết được vấn đề thì phải mổ làm cứng khớp bị đau.

Hamstring muscle : nhóm cơ bắp phía sau đùi, có thể bị rách đối với lực sĩ chạy đua hay đá bóng, hoặc bị trật ra nếu làm những thao tác nặng.

Handicap : kém năng lực về thể chất / tâm thần, gây trở ngại nhiều cho các sinh hoạt.

Hashimoto’s disease : một bệnh tự miễn, kháng thể của cơ thể gây tổn hại cho mô tuyến giáp làm tuyến sưng cứng và mất đi một phần hay toàn phần khả năng tiết hóc môn thyroxine, đưa đến bệnh suy tuyến giáp (hypothyroidism).

Hashish : cần sa.

Hay fever : viêm mũi dị ứng, đôi khi kèm thêm viêm kết mạc (conjunctiva), do phấn hoa, cây cỏ gây ra.

Head injury : chấn thương đầu, có thể bề ngoài không việc gì, hoặc làm rách da đầu, nứt vỡ sọ, tổn hại não. Tất cả chấn thương ở đấy đều phải được khám xét kỹ lưỡng và theo dõi, nhất là khi nạn nhân tiếp tục nôn mửa, đồng tử (con ngươi) hai bên mắt có hình dạng khác nhau, thấy hai hình, tình trạng lơ mơ ngày càng tệ đi. Xem thêm chữ brain haemorrhagia.

Sau chấn thương nặng, nạn nhân có thể không còn nhớ những gì xảy ra trước và sau tai nạn, cơ bắp yếu đi, mất cảm giác, lên cơn động kinh, thay đổi cá tính.

Hearing aids : trợ thính cụ.

Heart : tim, gồm cơ tim (myocardium), bên ngoài có màng bao tim (pericardium), bên trong là lớp nội mạc (endocardium). Tim có một vách (septum) ngăn đôi thành hai buồng, mỗi buồng có tâm nhĩ (atrium) ở trên và tâm thất (ventricle) ở dưới, được nuôi dưỡng bởi hai mạch máu vành tim (coronary arteries) xuất phát từ động mạch chủ (aorta).

Máu từ cơ thể theo tĩnh mạch chủ (vena cava) đổ về buồng phải và lên phổi qua động mạch phổi (pulmonary artery) để nhả khí carbon dioxide rồi tiếp nhận khí oxi, xong chảy vào tĩnh mạch phổi (pulmonary vein) đến buồng trái để phân phối đi khắp thân thể qua động mạch chủ.

Heart attack, myocardial infarction : kích tim, một phần cơ tim bị chết vì một nhánh mạch máu vành tim bị tắc nghẽn do mảng chất béo và máu đông cục gây ra. Bệnh nhân lên cơn đau ngực dữ dội lan lên cằm và cánh tay trái, đổ nhiều mồ hôi và có khi ngất xỉu.
Nguy cơ tử vong thường là do rung tâm thất (ventricular fibrillation), các biến chứng khác gồm rối loạn nhịp tim, suy tim, thủng vách ngăn đôi hai tâm thất, vỡ ở phần cơ tim bị chết, van tim không khép kín lại được, viêm màng bao tim (pericarditis).

Heart block : (sự) ngăn trở dòng điện tự nhiên của tim, nên sức go bóp của nó giảm xuống. Nguyên nhân : tật bẩm sinh ; bệnh của tim như kích tim, viêm cơ tim (myocarditis), bệnh cơ tim (cardiomyopathy), bệnh van tim ; thoái hóa hệ thống dẫn điện vì tuổi già. Người bệnh có thể không cảm thấy gì cả, nhưng nếu tim và mạch nhảy quá chậm sẽ dễ bị ngất xỉu, suy tim.

Heartburn : đau ở ngực do nước chua từ dạ dày trào ngược lên.

Heart disease, congenital : tật bẩm sinh của tim, tỷ lệ là 8/1,000 đứa trẻ, có thể phát ra lúc còn ở giai đoạn bào thai, nguyên nhân không rõ, một số trường hợp do mẹ bị bệnh sởi Ðức khi mang thai. Các triệu chứng là do máu ‘đen’ (không có khí oxi) được bơm vào cơ thể thay vì vào phổi, hoặc ngược lại máu ‘đỏ’ (có khí oxi) chảy vào phổi thay vì vào cơ thể. Kết quả là bệnh nhân có nước da xanh tím (cyanosis), khó thở ; ngoài ra, đứa bé chậm lớn, dễ nhiễm trùng ở phổi, suy tim.

Các loại tật bẩm sinh của tim gồm có : lỗ ở vách ngăn đôi hai tâm thất (ventricular septal defect,VSD), thường xảy ra nhất, 50% sẽ tự động bít lại, kỳ dư phải can thiệp phẫu thuật để tránh áp suất động mạch phổi tăng lên (pulmonary hypertension) ; lỗ ở vách ngăn đôi hai tâm nhĩ (atrial septal defect) ; hẹp một đoạn ở động mạch chủ (coarctation of the aorta), máu xuống phần bên dưới cơ thể sẽ ít đi ; ống dẫn nối động mạch chủ với động mạch phổi khi còn là bào thai không đóng lại (patent ductus arteriosus) sau khi đứa bé sinh ra, đưa đến hậu quả giống như có lỗ ở vách tim ; các mạch máu lớn của tim nằm sai vị trí (transposition of the great vessels), động mạch chủ xuất phát từ tâm thất phải, động mạch phổi từ tâm thất trái, nên máu ‘đỏ’ có khí oxi chảy vào phổi còn máu ‘đen’ không khí oxi lại được phân bổ đến khắp cơ thể ; hẹp van động mạch phổi, máu lên phổi sẽ ít đi ; tứ chứng Fallot (tetralogy of Fallot) gồm lỗ ở vách tâm thất, hẹp van động mạch phổi, động mạch chủ nằm sai chỗ, cơ tim tâm thất phải dày ra.

Việc định bệnh được tiến hành khi còn giai đoạn bào thai với sóng siêu âm ; sau khi sinh, ngoài khám lâm sàng, bác sĩ sẻ xét nghiệm thêm bằng cách chụp Xquang ngực, làm điện tâm đồ, sử dụng sóng siêu âm tim (echocardiogram), đôi khi thông tim ( cardiac catheterization).

Heart failure : suy tim, quả tim không còn đủ khả năng để bơm máu phân phối đi khắp thân thể. Có hai loại :

  1. suy tim trái, do nhiều nguyên nhân : cao huyết áp, thiếu máu, cường tuyến giáp (hyperthyroidism), bệnh van tim, hẹp một đoạn ở động mạch chủ (coarctation of the aorta), rối loạn nhịp tim, bệnh của cơ tim (cardiomyopathy). Trong mọi trường hợp, tim trái phải làm việc nhiều hơn, cơ tim dày lên, máu bơm ra không hết nên sẽ tràn ngược về phổi.

Bệnh nhân bị khó thở khi làm một công việc nhẹ, sau đó là cả khi nằm nghỉ, đôi khi bị chứng phù phổi (pulmonary oedema) cần phải cấp cứu ngay.

Suy tim phải ít gây khó thở, các triệu chứng gồm mặt và chân phù lên, gan to ra, tiêu hóa bị trở ngại.

Heart imaging : kỹ thuật sử dụng để xét nghiệm hình ảnh và cấu tạo của quả tim, gồm có : chụp Xquang ngực, chụp hình mạch máu vành tim và tim sau khi bơm chất cản quang vào đấy (angiography), sóng siêu âm tim (echocardiogram) trong khi tim đang đập, tiêm hoặc uống chất phóng xạ (radionuclide scanning), CT scanning, MRI v.v.

Heart-lung machine : máy tim phổi, một thiết bị đảm trách tạm thời chức năng của tim và phổi trong khi thực hiện phẫu thuật tim.

Heart-lung transplant : ghép tim và phổi lấy từ một người được xem là não đã chết cho bệnh nhân phổi bị hư hại trầm trọng do khí thủng (emphysema), phổi xơ có nang (cystic fibrosis), còn tim có thể bị bệnh hay không. Kết quả khả quan hơn là ghép phổi đơn thuần.

Heart transplant : ghép tim lấy từ một người được xem là não đã chết cho bệnh nhân tim bị hư hại nặng vì bệnh mạch máu vành tim, suy tim, bệnh van tim trầm trọng, bệnh của cơ tim (cardiomyopathy), một vài trường hợp bệnh tim bẩm sinh. Cuộc ghép tim đầu tiên do bác sĩ Christian Barnard, người Nam Phi, thực hiện năm 1967, bệnh nhân chỉ sống hơn một tháng. Từ đó đến nay, nhờ khoa học tiến bộ nên kết quả có phần khả quan hơn : tỷ lệ sống sót sau 2 năm là 80%, sau 5 năm là trên 60%.

Biến chứng, ngoài tim ghép bị thải bỏ, gồm : hư thận do thuốc chống thải bỏ gây ra, xơ vữa mạch máu, cao huyết áp, ung thư hạch bạch huyết, nhiễm khuẩn.

Heart valves : van tim, cơ cấu giúp máu chảy ra khỏi buồng tim và ngăn không cho máu dội ngược về. Có 4 van : van 2 lá giữa tâm nhĩ và tâm thất trái, van 3 lá giữa tâm nhĩ và tâm thất phải, van động mạch chủ, van động mạch phổi.

Các bệnh của van gồm hẹp van (stenosis) làm tim phải làm việc nhiều hơn để bơm máu ra khỏi buồng tim ; hở van (incompetence), van khép lại không kín nên máu dội ngược về. Nguyên nhân : 1- bẩm sinh, thường là hẹp van động mạch chủ (aortic stenosis) hay hẹp van động mạch phổi (pulmonary stenosis). 2- mắc phải, thường do thoái hóa hoặc thiếu máu nuôi một phần tim đưa đến hẹp van động mạch chủ, hở van hai lá (mitral incompetence) ; do sốt thấp khớp (rheumatic fever) nay ít còn xảy ra ; do nhiễm khuẩn nội mạc tim (endocarditis).

Hậu quả của các bệnh van tim là suy tim, rối loạn nhịp tim. Về chữa trị, có phẫu thuật nông van tim, thay van bằng van heo, bò, van plastic hay kim loại, van của người chết hiến tặng.


Heat exhaustion : mệt lã và ngất xỉu vì sức nóng của môi trường xung quanh tăng cao quá độ, làm mất nước và muối trong cơ thể nên huyết áp và thể tích máu giảm xuống. .

Heatstroke : say nóng, thân nhiệt tăng lên, da nóng bỏng, mồ hôi không toát ra được, sau đó là bất tỉnh, do cơ chế điều hòa thân nhiệt mất hiệu năng. Nguy cơ chết có thể xảy ra nếu không chữa trị ngay.

Hebephrenia : (tâm thần) một loại bệnh tâm thần phân liệt xảy ra từ lúc trẻ, đặc trưng nổi bật nhất là rối loạn về tư tưởng, cảm xúc thể hiện không phải lúc, ví dụ cười lên khi nghe một chuyện buồn, vô tình hờ hững, hay gây sự, cư xử ngớ ngẩn.

Helminth / helminthiasis : giun sán, ký sinh gồm sán lá (fluke), sán dây (tapeworm), giun tròn (nematode) / bệnh giun sán.

Hemianopsia : bán manh, không trông thấy nửa phần tầm nhìn. Kiểu thường có nhất là bán manh cùng bên, bên phải hoặc trái của mỗi mắt.

Chứng này có thể thoáng xảy ra (transient) trong bệnh nhức đầu nửa bên (migraine), trúng phong ngắn hạn do máu tiếp tế não không đủ (transient ischaemic attack, TIA) ; vĩnh viễn trong trúng phong, u não đè lên thần kinh thị giác số II (optic nerve), chấn thương đầu.

Hemicolectomy : cắt bỏ một nửa ruột già, thực hiện trong bệnh Crohn ở phần cuối ruột non giáp với ruột già (ileum), ung thư ruột già lên.

Hemiparesis / hemiplegia : (thần kinh) liệt nhẹ nửa người / liệt nửa người, do trúng phong, chấn thương đầu, xuất huyết não, viêm não, đa xơ hệ thần kinh (multiple sclerosis).

Heparin : chất làm ngưng đông máu, sử dụng trong chứng máu đông cục lại (thrombosis).

Hepatectomy (partial) : cắt bỏ một phần gan trong trường hợp u gan hoặc bị chấn thương nặng. Gan có đặc tính mọc trở lại nên có thể cắt bỏ đến ¾ cơ quan này.

Hepatic encephalopathy : (thần kinh) xáo trộn chức năng não bởi chất độc từ ruột già thấm vào, khi gan bị hư hại nặng không còn khả năng giải độc nữa, ví dụ gan chai (cirrhosis). Triệu chứng : lờ đờ, đầu óc lẫn lộn rồi hôn mê.

Hepatitis : viêm gan do siêu khuẩn, chất độc, bệnh tự miễn (autoimmune disease) gây ra. Viêm gan cấp tính gồm các triệu chứng đau bụng, vàng da, ngứa khắp người, buồn nôn và sốt. Viêm mạn tính cũng có các triệu chứng như trên nhẹ hơn nhưng kéo dài nhiều năm tháng và cuối cùng đưa đến chai gan.

Siêu khuẩn viêm gan chủ yếu là siêu khuẩn A, B, C, D và E (hepatitis viruses A, B, C, D and E). Siêu khuẩn A và E truyền đi bằng thực phẩm/nước uống lây nhiễm do bệnh nhân hay người mang mầm bệnh, ít gây biến chứng nghiêm trọng ; siêu khuẩn B, C, D truyền lan từ máu và sản phẩm của máu qua truyền máu, dùng chung kim tiêm (người nghiện), xâm mình, quan hệ tình dục, sữa mẹ. Phần lớn bệnh nhân đều hồi phục, nhưng tỷ lệ tử vong là từ 5-20%, do chai gan và ung thư gan.

Các siêu khuẩn trên rất dễ bị tiêu hủy khi ra ngoài không khí, nên không có vấn đề lây bệnh vì dùng chung chén đĩa, nhà vệ sinh, bắt tay nhau.

Hepatoblastoma : một loại ung thư gan xảy ra cho trẻ con, chữa trị bằng cách cắt bỏ phần ung thư đó.

Hepatoma : ung thư gan, thường phát triển trong bệnh gan chai. Tại một số quốc gia Phi châu và vùng nhiệt đới, ung thư có thể là tiên phát do ăn phải chất aflatoxin của nấm mọc ở hột lạc.

Hepatomegaly : gan to ra.

Hepatotoxic : độc và gây tổn hại cho tế bào gan, ví dụ uống Paracetamol lâu ngày hoặc uống một lúc liều cực mạnh.

Hereditary : thuộc di truyền, truyền từ cha mẹ sang các con.

Hermaphroditism : lưỡng tính, tình trạng có cả hai loại cơ quan sinh dục nam và nữ, hoặc cơ quan sinh dục gồm cả tế bào trứng và tinh hoàn. Chứng này rất hiếm trên thế giới.

Hernia : thoát vị, tình trạng một cơ quan trồi ra tại một chỗ yếu của cơ thể : thoát vị bẹn (inguinal hernia), đùi (femoral hernia), rốn (umbilical hernia), ở vết mổ bụng cũ (incisional hernia), cơ hoành (diaphragmatic hernia).

Thoát vị bẹn xảy ra ở bụng dưới, một túi phúc mạc chứa một khúc ruột trồi theo ống bẹn xuống bẹn hoặc bìu dái ; thoát vị đùi cũng tương tự như thoát vị bẹn nhưng nằm ở phần trên của đùi ; thoát vị rốn thường thấy ở trẻ con ; thoát vị cơ hoành, một cơ quan trong bụng trồi lên xoang ngực, kiểu thường thấy nhất là thoát vị khe (hiatus hernia, xem chữ).

Biến chứng : cơ quan thoát vị không trở lại vị trí cũ và mắc dính ở đấy, mạch máu nuôi dưỡng của nó bị xoắn lại, cắt đứt nguồn tiếp tế máu nên có thể gây hoại thư nếu không can thiệp khẩn cấp.

Cách chữa trị tốt nhất cho mọi trường hợp thoát vị là giải phẫu.

Heroin (diamorphine) : (thần kinh) một loại bột kết tinh màu trắng, đặc chế từ morphine, nhưng tác dụng ngắn hơn, dùng để giảm cơn đau dữ dội. Dùng lâu có thể gây nghiện.

Herpes : bệnh ngoài da hay ở niêm mạc, gồm nhiều mụt bóng nước nhỏ, do siêu khuẩn Herpes gây ra. Có nhiều loại :

zoster, gồm nhiều mụt nước nhỏ tại một bên thân thể, ở ngực, bụng, cổ, tay, mặt, mắt, gây

đau nhức, cơn đau có khi kéo dài nhiều tháng sau khi các mụt đã lành. Bệnh thường xảy ra cho người trên 50 tuổi, đặc biệt vào lúc hệ thống miễn nhiễm bị suy yếu. Siêu khuẩn có thể gây bệnh thủy đậu (varicella) cho trẻ con.

Các bệnh do siêu khuẩn Herpes được chữa trị với thuốc chống siêu khuẩn, ví dụ Aciclovir, làm giảm bớt các triệu chứng, với điều kiện phải được sử dụng sớm.

Heterograft (xenograft) : ghép mô sống hay cơ quan của loại này cho loại khác, ví dụ ghép cơ quan của súc vật cho người.

Heterosexuality : (sự) cư xử và ý tưởng về tình dục hướng về một người khác phái.

Heterozygote / homozygote : tình trạng một người mà tế bào chứa đựng hai gin khác nhau về một đặc tính nào đó / tình trạng ngược lại.

Hiatus : khe, lỗ hở, ví dụ cơ hoành (diaphragm) có các khe động mạch chủ, thực quản chạy xuyên qua.

Hiatus hernia : thoát vị khe, một phần dạ dày trồi lên khoang ngực xuyên qua khe cơ hoành, thường xảy ra cho người béo mập, hút thuốc lá. Nhiều bệnh nhân không cảm thấy gì, đối với một số khác dịch dạ dày trào lên thực quản gây chứng đau ngực, viêm thực quản. Ðịnh bệnh bằng cách chụp Xquang thực quản, soi thực quản và làm sinh thiết ở đó.

Chữa trị : nằm đầu cao, ăn thức ăn nhẹ, cữ thuốc lá và rượu, giảm cân nặng, dùng dược phẩm, giải phẫu.

Hiccup : nấc cụt.

Hidrosadenitis : viêm tuyến mồ hôi, do tuyến bị tắc, thường thấy ở nách, quanh núm vú, rốn, háng.

Hip replacement : phẫu thuật thay khớp háng bị bệnh viêm xương khớp (osteoarthritis) với thiết bị bằng kim loại. Khớp giả có thể hoạt động trong nhiều năm.

Hippocampus : (thần kinh) hải mã, một thành phần của hệ viền (limbic system) trong não, có vai trò trong sự học biết, trí nhớ.

Hirschprung’s disease : tật bẩm sinh, dây thần kinh vùng trực tràng không phát triển nên gây táo bón cho đứa bé, bụng căng to và đau. Chữa trị bằng giải phẫu.

Hirsutism : chứng rậm lông, đặc biệt ở phụ nữ. Nguyên nhân thường không rõ, một số trường hợp là do rối loạn về hệ thống hóc môn, ví dụ chứng đa nang buồng trứng (polycystic ovary), bướu tuyến thượng thận.

Histamine : một hợp chất làm giãn mạch máu, go bóp cơ trơn, và là một yếu tố trung gian quan trọng trong quá trình viêm sưng, gây phản ứng ngoài da như đỏ mặt, nổi mề đay, trong sốc nặng (anaphylactic shock), trong dị ứng, kể cả suyễn.

Histocompatibility : sự tương hợp giữa các mô, rất cần trong việc ghép cơ quan.

Histology : khoa học về cấu trúc mô.

Histrionic personality disorder : (tâm thần) rối loạn cá tính loại hay phô trương qua cách ăn mặc loè loẹt, muốn người khác chú ý đến mình, cảm xúc thay đổi từng lúc. Rối loạn này thường xảy ra cho phụ nữ.

HIV, Human Immunodeficiency Virus : siêu khuẩn gây bệnh Aids, lây truyền qua đường máu (truyền máu, dùng kim tiêm không khử trùng), qua đường tình dục, qua lá nhau vào bào thai nếu mẹ bị nhiễm.

HIV tấn công và hủy hoại T-lympho bào, tế bào máu đặc trách về miễn nhiễm. Siêu khuẩn không sống được khi ra khỏi cơ thể, nên không có vấn đề lây cho người khác khi dùng chung bát đĩa, phòng vệ sinh, bắt tay nhau v.v.

Hives, urticaria : mề đay.

HLA system, Human Leucocyte Antigen system : hệ thống kháng nguyên bạch cầu, gồm một nhóm 8 kháng nguyên quan trọng nhất trong số 20 hay hơn các kháng nguyên của mô. Trong ghép cơ quan, càng ít khác biệt về hệ thống HLA giữa người nhận và người hiến tặng càng tốt.

Hodgkin’s disease : bệnh Hodgkin, một bệnh ung thư của các mô bạch huyết, hạch mọc ở cổ, nách, háng, ngực, bụng, tủy xương, gan và lách sưng to. Bệnh nhân thường ở tuổi 20-30 và 55-70. Các triệu chứng khác gồm sút cân, sốt, ra mồ hôi nhiều về đêm, ngứa khắp người.

Ðịnh bệnh bằng sinh thiết hạch, tủy xương, Xquang ngực, CT và MRI scan bụng. Chữa trị : xạ trị, thuốc chống ung thư, khoảng 78% có tiên liệu tốt.

Holistic : phương cách chữa trị bao gồm cả vấn đề thể chất, tâm lý và xã hội của bệnh nhân, thay vì chỉ chú trọng tới căn bệnh đã chẩn đoán.

Homeopathy : liệu pháp vi lượng đồng căn dựa trên lý thuyết ‘dĩ độc trị độc’. Bệnh nhân được chữa trị với một liều rất nhỏ loại thuốc mà chính nó có thể gây ra các triệu chứng của căn bệnh mắc phải.

Homeostasis : tiến trình sinh lý hóa của các hệ thống trong cơ thể – huyết áp, thân nhiệt, độ

axít/kiềm – được giữ ở mức cân bằng, bất kể các thay đổi từ bên ngoài.

Homograft, allograft : ghép đồng loại, ghép một cơ quan hay mô sống cho cá thể cùng loại, ví dụ ghép tim của người này sang người khác.

Homosexuality : (tâm lý) đồng tính luyến ái, đàn ông / đàn bà làm tình với người cùng phái. Nguyên nhân chưa rõ, có thể là do có sự khác thường ở nhiễm sắc thể X. Họ đạt khoái lạc tình dục bằng khẩu giao (oral sex), giao cấu qua đường hậu môn (đàn ông), dùng dụng cụ mua tại sex shop (đàn bà), thủ dâm cho nhau v.v.

Xã hội ngày nay không còn khăt khe đối với họ nữa, nhưng truyền nhiễm qua đường tình dục dễ xảy ra hơn, ví dụ bệnh HIV-Aids.

Hookworm : giun móc, ví dụ giun Ancylostomia, sống ký sinh trong ruột non, có thể đưa đến chứng thiếu máu vì mất máu.

Sạn

Hormone : hóc môn, một chất do tuyến nội tiết (tuyến yên, tuyến giáp trạng…) tiết thẳng vào máu đến một cơ quan ở xa, để thay đổi cấu trúc hay chức năng của cơ quan đó. Ví dụ hóc môn tuyến yên trong não ảnh hưởng đến buồng trứng, tinh hoàn.

Hormone replacement therapy, HRT: phép chữa trị dùng hóc môn nhân tạo thay thế, ví dụ dùng oestrogen để làm giảm bớt những triệu chứng xảy ra vào thời tuyệt kinh như phừng đỏ mặt, đổ mồ hôi ban đêm, khó ngủ, khô âm đạo, để ngừa chứng loãng xương (osteoporosis), xơ vữa mạch máu (arteriosclerosis).

Hóc môn oestrogen được sử dụng phối hợp với hóc môn progesterone, dưới hình thức thuốc viên hoặc dán, thuốc cấy. Các biến chứng gồm máu dễ đông cục, tỷ lệ ung thư vú và tử cung tăng lên, cao huyết áp, bệnh tim mạch, nôn mửa, chuột rút.

Huntington’s disease : (thần kinh) bệnh di truyền, 50% con cái sẽ mắc phải nếu cha hoặc mẹ bị bệnh, do thoái hóa hạch đáy (basal ganglia) trong não. Các triệu chứng xảy ra từ 35 tuổi trở đi, gồm cơn co giật ở mặt, tay, thân hình, tính khí cùng cách cư xử hành động thay đổi, dễ cau có, hờ hững với sự việc xảy ra, mất trí nhớ. Cho đến nay, chưa có thuốc chữa, bệnh nhân sống được từ 15-30 năm sau khi triệu chứng đầu tiên phát ra.

Hydatiform mole : (sản phụ khoa) thai trứng, tỷ lệ là 1/200 trường hợp có thai, gồm nhiều nang giống như chùm nho phát triển từ lá nhau. Thai phụ nôn mửa nhiều, ra huyết ở âm đạo, còn bào thai thì đã chết.

Ðịnh bệnh bằng siêu âm, thử nước tiểu và máu có nhiều hóc môn HCG. Một số ít trường hợp (3%) biến chứng thành ung thư (choriocarcinoma), do đó cần theo dõi trong vòng hai năm. Chữa trị : hút thai trứng, nạo tử cung, đôi khi cắt bỏ tử cung nếu sản phụ trên 40 tuổi.

Hydramnios : (sản phụ khoa) tình trạng quá nhiều nước ối bao quanh bào thai từ tháng thứ năm trở đi. Nguyên nhân thường không rõ, một số ít trường hợp do thai phụ bị bệnh tiểu đường, mang song thai, bào thai có dị tật như không có não (anencephaly), trít thực quản.

Triệu chứng : bụng to nhiều hơn so với tuổi thai, khó thở , sưng chân. Thai phụ có thể sinh non.

Hydrocele : dái nước, dịch tích tụ trong một túi bao quanh tinh hoàn, làm bìu dái căng to lên. Nguyên nhân không rõ, đôi khi do viêm, u, chấn thương tinh hoàn. Chữa trị bằng cách rút nước ra hoặc mổ cắt bỏ túi.

Hydrocephalus : (thần kinh) tràn dịch não, tình trạng tăng bất thường số lượng dịch não làm cho đầu đứa bé to ra, một số đặc điểm khác là chân cứng, động kinh, con người lờ đờ thiếu sinh khí. Tràn dịch não ở người lớn gồm các triệu chứng nhức đầu, nôn mửa, cử động mất sự điều hợp, giảm chức năng trí tuệ.

Chữa trị : dẫn lưu dịch não xuống xoang bụng.

Hydronephrosis : ứ nước ở thận do cơ quan bài tiết bị tắc vì sạn, u thận, phì đại tuyến tiền liệt, tật bẩm sinh ở niệu quản (ureter). Cần được chữa trị, nếu không sẽ bị suy thận, thận nhiễm khuẩn.

Hydropericardium : tràn dịch màng bao quả tim, xảy ra trong trường hợp viêm màng bao này. Dịch quá nhiều có thể gây trở ngại cho hoạt động của tim, cần phải dẫn lưu.

Hydropneumothorax : tràn dịch và khí trong xoang màng phổi.

Hydrosalpinx : (sản phụ khoa) tràn dịch trong vòi trứng.

Hydrotherapy : thủy liệu pháp, dùng bồn nước xoáy, tắm hoa sen, bể bơi để giúp thư giãn cơ bắp, tập luyện cho bệnh nhân bị viêm xương khớp, gẫy xương đã lành.

Hygiene : vệ sinh, khoa học về sức khoẻ và nghiên cứu các phương pháp bảo tồn sức khoẻ,

đặc biệt bằng cách giữ sạch sẽ.

Hymen : (sản phụ khoa) màng trinh. Một số thiếu nữ có màng trinh bít kín không lỗ hở nên máu kinh tụ lại, phải khai thông bằng cách xẻ màng (hymenotomy).

Hyper : tiếp đầu ngữ chỉ sự quá độ, tăng to lên, ví dụ hypertrophy of the prostate = phì đại tuyến tiền liệt.

Hyperacusis : tăng thính lực, tiếng động, nghe dội lớn lên, đôi khi gây đau nhức khó chịu trong tai.

Hyperbaric oxygenation : kỹ thuật để bệnh nhân tiếp cận với khí oxi có áp suất cao, dùng chữa ngộ độc khí carbon monooxide, hoại thư khí (gas gangrene) do khuẩn kỵ khí gây ra.

Hypercalcaemia : lượng calcium máu tăng cao. Nguyên nhân : hóc môn tuyến cận giáp (parathyroid gland) tiết ra quá nhiều, ung thư nơi khác di căn đến xương, uống quá nhiều vitamin D.

Triệu chứng : nôn mửa, người lừ đừ, khát nước và tiểu nhiều, buồn chán, mệt mỏi rã rời, rối loạn nhịp tim, suy thận.

Hypercapnia : tăng nồng độ khí carbon dioxide trong máu, do có trở ngại ở đường hô hấp, ví dụ bị suyễn, đưa đến máu nhiễm a xít (respiratory acidosis).

Hyperchlorhydria : tăng a xít trong dịch vị, thường kết hợp với loét tá tràng.

Hyperemesis : chứng nôn mửa thốc tháo.

Hyperglycaemia : lượng đường glu cốt trong máu tăng cao, xảy ra trong nhiều bệnh, đáng chú ý nhất là bệnh tiểu đường. Không chữa trị có thể đưa đến lẫn lộn rồi hôn mê.

Hyperhidrosis : chứng mồ hôi ra quá nhiều, do vận động, thời tiết nóng, lo âu. Một số trường hợp không rõ nguyên nhân, một số khác do nhiễm trùng, cường năng tuyến giáp (hyperthyroidism), đường máu xuống thấp.

Nên mặc áo quần bằng bông vải hoặc da. Giải phẫu hủy hạch giao cảm (sympathectomy) phân bổ đến tuyến mồ hôi giúp chữa được chứng ra mồ hôi nhiều ở tay, bàn tay, nách.

Hyperlipidaemia : chất béo – cholesterol, triglycerides, lipoprotein – có nhiều trong máu. Nguyên nhân : di truyền, tuyến giáp giảm hoạt động, nghiện rượu nặng, tiểu đường, suy thận, hội chứng Cushing, dùng lâu ngày thuốc corticosteroid, hóc môn oestrogen.

Nguy cơ gồm hẹp động mạch vì chất béo đóng vào, bệnh mạch máu vành tim.

Hypermetropia, long-sightedness : viễn thị.

Hyperparathyroidism : tăng hoạt động của tuyến cận giáp, u lành tính ở tuyến này (parathyroid gland) tiết ra quá nhiều hóc môn làm lượng calcium máu tăng cao. Xem chữ hypercalcaemia.

Hyperpyrexia : sốt cao., nhiệt độ cơ thể trên 106 độ F (41.1 độ C).

Hypersensitivity : nhạy cảm quá độ đối với một kháng nguyên (antigen) được xem là vật lạ xâm nhập cơ thể. Tình trạng chỉ xảy ra vào lần thứ nhì hay các lần kế sau khi tiếp cận với kháng nguyên, gồm 4 loại : loại gây các triệu chứng của suyễn, dị ứng hoa cỏ (hay fever), nổi mề đay, sốc dị ứng nặng (anaphylactic shock) ; loại gây các bệnh tự miễn (autoimmune diseases) ; loại gây phản ứng khi tiêm huyết thanh ; loại gây bệnh ngoài da vì tiếp cận (contact dermatitis), ví dụ mang dây chuyền, đeo đồng hồ v.v.

Hypertension : cao huyết áp, 90% không rõ nguyên nhân, các yếu tố tạo điều kiện gồm tuổi tác, gia đình có người bị cao huyết áp, béo phì, uống rượu quá độ, ăn mặn, ít vận động, tinh thần luôn bị căng thẳng. Số còn lại là do bệnh ở thận, một vài loại bệnh của tuyến thượng thận, tiền sản giật, sử dụng dược phẩm ví dụ thuốc ngừa thai.

Từ con số bình thường là 120/80 mm thủy ngân, huyết áp tăng nhẹ đến cao, từ 160/95 mm trở lên (theo định nghĩa của Tổ chức Y Tế Quốc Tế). Bênh nhân có thể không có triệu chứng nào cả, hoặc nhức đầu, chóng mặt khó thở, mờ mắt. Các biến chứng gồm có : tai biến mạch máu não, suy tim trái, tắc nghẽn mạch máu vành tim, hư thận, hư mạch máu võng mạc mắt. Biến chứng tăng theo với độ cao của huyết áp, ví dụ đối với người đàn ông 40 tuổi, cứ mỗi 10 mm thêm sẽ tăng nguy cơ bệnh tim lên 20%.

Trong sự chữa trị, ngoài cữ rượu, thuốc lá, cữ ăn mặn và các chất béo, nên ăn nhiều rau quả và vận động, người bệnh được cấp thuốc hạ huyết áp, thuốc phải uống một thời gian dài hoặc suốt đời. Một số ít trường hợp cao huyết áp nguyên nhân biết được có thể chữa khỏi.

Hyperthermia : tăng thân nhiệt (41 độ C hay cao hơn). Hyperthyroidism : tăng hoạt động của tuyến giáp. Xem chữ goitre. Hypertonia : tăng trương lực cơ.

Hypertrichosis : chứng lông tóc mọc nhiều. Xem chữ hirsutism.

Hypertrophy : mô / cơ quan tăng kích thước do các tế bào to ra, ví dụ cơ bắp nở to sau một thời gian hoạt động nhiều.

Hypervitaminosis : rối loạn chức năng cơ thể do lạm dụng vitamin. Tình trạng ít nghiêm trọng với vitamin tan trong nước vì được thải qua đường tiểu, còn với vitamin tan trong dầu như vitamin A, D, E sẽ có những triệu chứng nhiễm độc. Ví dụ uống nhiều vitamin A gây nhức đầu, buồn nôn, ăn mất ngon, rụng tóc, lột da, kinh nguyệt không đều.

Hypnosis : (tâm lý) thôi miên, tình trạng giống như ngủ do chuyên viên tạo ra cho một cá thể, giúp thư giãn tinh thần, trị chứng nghiện thuốc lá, một vài bệnh như lo âu, sợ hoảng.

Hypnotic : thuốc ngủ, dùng lâu có thể gây nghiện thuốc.

Hypo- : tiếp đầu ngữ chỉ :1- thiếu hụt. 2- ở dưới, ví dụ hypoglossal = dười lưỡi.

Hypocalcaemia : lượng calcium máu thấp. Nguyên nhân thường nhất là thiếu vitamin D vì ăn uống không đầy đủ, ít ra nắng, suy thận, tuyến cận giáp không tiết ra đủ hóc môn. Trường hợp nhẹ không có triệu chứng gì xảy ra, còn nặng sẽ gây ra cơn co giật cơ bắp, đặc biệt là ở bàn tay và chân (tetany).

Hypochondriasis : (tâm thần) bệnh tưởng, lúc nào cũng nghĩ rằng mình đang mắc một bệnh nặng. Ví dụ đau ở bụng thì cho là đã bị ung thư dạ dày, ruột. Ðây là loại bệnh xảy ra cho người có rối loạn cá tính, hoặc lúc trẻ đã mắc một bệnh nặng, hay đang sống trong gia đình có người mắc bệnh nặng.

Hypoglycaemia : giảm lượng đường trong máu, thường thấy nhất là bệnh nhân bị tiểu đường dùng quá liều insulin tiêm, thuốc viên hạ đường huyết, hoặc bỏ bữa, ăn không đủ chất ngọt carbohydrate. Triệu chứng : đổ mồ hôi, cảm thấy đói, yếu cơ bắp, run tay chân, chóng mặt, đầu óc lẫn lộn, cử

động mất đi sự điều hợp, và nếu lượng đường xuống quá thấp sẽ bị hôn mê.

Ðường xuống thấp là một tình trạng nguy hiểm, não thiếu đường có thể đưa đến tổn hại vĩnh viễn về trí tuệ.

Hypogonadism : giảm hoạt động của tuyến tình dục (tinh hoàn, buồng trứng) gây chậm phát triển các đặc điểm phái tính thứ phát của phái nam (mọc râu và lông, giọng nói ồ, cơ bắp to lên) và phái nữ (mọc lông, vú to ra).

Hypomania : (tâm thần) hưng cảm nhẹ. Xem chữ mania.

Hypoparathyroidism : giảm hoạt động của tuyến cận giáp, làm lượng calcium máu xuống thấp. Xem chữ hypocalcaemia.

Hypopituitarism : giảm hoạt động của tuyến yên, gây chứng lùn khi còn bé, ở người lớn là hội chứng tổn hại chức năng sinh dục, xanh xao, già trước tuổi. Nguyên nhân : u tuyến yên, giải phẫu và xạ trị tuyến yên, rối loạn hạ đồi thị (hypothalamus).

Hypotension : huyết áp giảm xuống. Ngoài những trường hợp mất máu, mất nước vì tiêu chảy, nôn mửa, bị bỏng, phản ứng dị ứng nặng, nhiễm trùng, nhồi máu cơ tim v.v., một số người bị giảm huyết áp tạm thời khi từ vị trí nằm rồi đột ngột đứng lên có thể gây choáng váng ngất xỉu.

Hypothalamus : (thần kinh) hạ đồi thị, một cơ quan nằm sâu trong não, nối liền với đồi thị (thalamus) ở trên và tuyến yên ở dưới, gồm nhiều chức năng quan trọng :

1- kiểm soát hoạt động của hệ thần kinh giao cảm (sympathetic nervous system) như gặp cảnh kinh hoàng sợ hãi, nhịp tim mạch sẽ tăng lên, thở nhanh, máu chảy nhiều đến cơ bắp để sẵn sàng ứng phó. 2- kiểm soát thân nhiệt, cơn đói và khát. 3- kiểm soát việc ngủ, tình dục, cảm xúc. 4-điều hòa hóc môn tuyến yên.

Rối loạn chức năng của hạ đồi thị là do xuất huyết não, u tuyến yên lan lên.

Hypothermia : 1- giảm thân nhiệt (dưới 35 độ C) gây lơ mơ, nhịp tim và thở chậm lại, có thể đưa đến hôn mê và chết. Thường xảy ra cho người già nhà sưởi không đủ ấm, nhất là khi họ mắc thêm chứng tuyến giáp giảm hoạt động, bị lẫn, viêm đau khớp ; trẻ sơ sinh cũng dễ mắc phải vì chúng mất nhiệt một cách nhanh chóng. 2- giảm thân nhiệt với mục đích chữa trị, ví dụ trong phẫu thuật để bớt nhu cầu oxi của các cơ quan quan trọng như tim, não.

Hypothyroidism : giảm hoạt động của tuyến giáp, hóc môn tiết ra ít. Nguyên nhân : bệnh tự miễn của tuyến giáp, ví dụ bệnh Hashimoto, một số trường hợp do mổ hoặc xạ trị tuyến giáp.

Triệu chứng : mệt mỏi toàn diện, người lờ đờ, mạch nhảy chậm, da khô, táo bón, tóc rụng, tăng cân lượng, mặt phù tròn lên vì mô ở đấy dày ra, đôi khi có bướu cổ. Trẻ con mắc bệnh sẽ chậm lớn, đần độn, lưỡi thò ra, bụng ỏng, tóc và răng không mọc.

Hypotonia : tình trạng giảm trương lực cơ bắp.

Hypoxaemia : giảm nồng độ oxi trong máu, thường do phổi bị bệnh nên không tiếp nhận

được đầy đủ không khí hít vào.

Hysterectomy : cắt bỏ tử cung, qua mổ bụng hoặc theo đường âm đạo (vaginal hysterectomy), thực hiện cắt bỏ gần toàn bộ, giữ lại cổ tử cung (subtotal hysterectomy) nay ít làm, hoặc toàn bộ (total hysterectomy), có kèm thêm cắt bỏ một bên/hai bên vòi và buồng trứng.

Ðược chỉ định trong các trường hợp u xơ tử cung, ung thư tử cung, cổ tử cung, có kinh ra huyết quá nhiều, lạc nội mạc tử cung (endometriosis), sa tử cung. Cắt bỏ tử cung không ảnh hưởng đến ham muốn hoặc hoạt động tình dục.

Hysteria : (tâm thần) 1- rối loạn tâm lý chuyển thành triệu chứng cơ thể (conversion disorder) nhưng không có hư hại của phần cơ thể đó, ví dụ bị mù, điếc, mất cảm giác, liệt tay chân ; những triệu chứng này chỉ tồn tại một thời gian ngắn. 2- tình trạng xúc động mạnh nên la hét, nhảy nhót cuồng loạn, ví dụ chứng kiến cảnh hãi hùng, thấy tài tử mình ngưỡng mộ xuất hiện.

Hysterosalpingography : (sản phụ khoa) chụp Xquang tử cung và vòi trứng.

Hysteroscope : (sản phụ khoa) ống soi dùng quan sát bên trong tử cung.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net