» B B – Y học online

Chú giải thuật ngữ y học anh việt thông dụng

B



Baby blues : (tâm thần) từ thông thường để nói về nỗi buồn khổ, mau chảy nước mắt có tính cách thoáng qua của các sản phụ mới sinh con, nhất là con đầu lòng.

Bacillus : khuẩn hình que.

Backbone (spinal column, vertebral column) : cột sống bao quanh và bảo vệ tủy sống (spinal cord), gồm các đốt xương nối lại với nhau bằng những đĩa sụn và nhiều lớp dây chằng (ligament). Vùng cổ có 7 đốt (cervical vertebra), ngực 12 đốt (thoracic vertebra), thắt lưng 5 đốt (lumbar vertebra), xương cùng (sacrum) 5 đốt và xương cụt (coccyx) 4 đốt, các đốt của hai xương này dính lại với nhau. Như vậy, cột sống người lớn có tất cả 26 đốt.

Một số bệnh xảy ra ở cột sống gồm : thoái hóa đĩa sụn, nhân đĩa sụn trồi ra rồi chèn ép dây thần kinh từ cột sống chạy ra, loãng xương,  lao xương v.v.

Bacteria : khuẩn, có nhiều hình dạng khác nhau : hình cầu, que, xoắn, dấu phẩy, Nhiều loại khuẩn ký sinh không gây hại cho người, ví dụ khuẩn trong ruột già ; một số khác gây bệnh bằng cách sản xuất nội / ngoại độc tố (endotoxin / exotoxin).

Bactericidal / bactericides : diệt khuẩn / các chất diệt khuẩn gồm thuốc kháng sinh, sát trùng và tẩy trùng.

Bacteriology / bacteriologist : khoa nghiên cứu về khuẩn / chuyên viên của ngành này..

Balanitis : viêm qui đầu dương vật, thường kết hợp với bao da qui đầu (phimosis).

Barbiturate : (thần kinh) nhóm dược phẩm làm giảm hoạt động của hệ thần kinh trung ương, dùng làm thuốc ngủ, gây mê, chữa động kinh. Vì các phụ chứng độc hại có khi chết người nếu uống quá liều, vì dễ đưa đến tình trạng bệnh nhân lệ thuộc vào nó nên hiện nay thuốc được thay thế bằng các loại khác an toàn hơn.

Barium sulphate : chất cản quang sử dụng để chụp Xquang bộ phận tiêu hóa.

Barotrauma : chấn thương gây hư tổn tai giữa / ống Eustache do thay đổi áp suất không khí khi di chuyển trên không (đi máy bay) hoặc lặn sâu dưới nước.

Bartholin’s glands : (sản phụ khoa) hai tuyến ở nơi tiếp giáp của âm đạo và âm hộ, tiết chất nhờn làm trơn âm đạo giúp dương vật dễ đưa vào khi giao cấu. Tuyến có thể bị viêm cấp hoặc mạn tính.

Basal cell carcinoma (rodent ulcer) : ung thư biểu mô tế bào đáy, một loại ung thư gây loét, thường thấy ở bờ mi mắt, môi và mũi. Bệnh hủy hoại da, cơ bắp và xương, nhưng không lan đến các bộ phận cơ thể khác. Chữa trị bằng phẫu thuật, xạ trị, tiên liệu tốt.

Basal ganglia : (thần kinh) hạch đáy, gồm nhiều khối chất xám nằm sâu trong chất trắng của não, liên quan đến việc kiểm soát trong tiềm thức các cử động theo ý muốn.

Basal metabolism : chuyển hóa cơ bản, số năng lượng cần thiết cho cơ thể để duy trì các chức năng quan trọng như hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa. Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến số liệu của chuyển hóa cơ bản : tuổi tác, phái tính, đặc biệt là hoạt động của tuyến giáp.

Battered baby syndrome : (tâm thần) hội chứng trẻ thơ bị đánh đập hành hạ. Cha mẹ các

đứa bé này thường có rối loạn về cảm xúc, hoặc chính họ cũng từng bị hành hạ khi còn trẻ.

BCG (bacille Calmette-Guérin) : một giống khuẩn lao đã mất khả năng gây bệnh nhưng vẫn còn giữ được tính tác động về đề kháng ; vì vậy, được dùng để chế tạo thuốc chủng ngừa lao cho nhân viên y tế, trẻ sơ sinh của người dân đến từ các quốc gia có tỷ lệ lao cao, cho trẻ con tuổi từ 10-14 đang đi học.

Bedsore (decubitus ulcer, pressure sore) : loét da, xảy ra cho bệnh nhân nằm liệt giường, do sức nặng cơ thể họ thường xuyên đè lên một chỗ. Vết loét có thể làm độc, cho nên cần thay đổi thế nằm của họ cứ hai giờ một lần, giữ thật sạch và khô ráo các vùng mông đít, lưng, vai, khuỷu tay và gót chân.

Bedwetting (enuresis) : chứng đái dầm con nít, thường do hệ thần kinh kiểm soát chức năng của bọng đái chậm phát triển, tình trạng sẽ chấm dứt khi đứa trẻ lớn lên ; một số ít trường hợp do rối loạn liên quan đến sự bài tiết nước tiểu : dị tật ở cơ quan tiết niệu,

đái đường, nhiễm khuẩn, cần được chữa trị tận gốc.

Bell’s palsy : (thần kinh) liệt dây thần kinh mặt ở một bên, các cơ bắp ở mặt bị yếu, mắt không nhắm khít được, mép xệ xuống ; một số bệnh nhân mắc thêm chứng mất vị giác, nghe tiếng động vang to hơn. Nguyên nhân chứng liệt này (gọi là liệt Bell, tên một vị bác sĩ) không rõ, tình trạng có thể tự nhiên khỏi. Các chứng liệt mặt khác là do siêu khuẩn bệnh dời leo (shingles), chấn thương dây thần kinh mặt vì tai nạn, vì mổ xẻ.

Bends (decompression sickness, caisson disease) : đau khớp và xương, nhức đầu, xây xẩm, đôi khi liệt tay chân, xảy ra cho công nhân làm việc ở độ sâu bên trong thùng kín có áp suất cao, cho thợ lặn sâu rồi trồi lên mặt nước quá nhanh.

Benign : lành tính, trái với malignant là ác tính.

Benign intracranial hypertension : (thần kinh) tăng áp suất lành tính trong hộp sọ, do trở ngại của sự tái hấp thụ não thủy. Triệu chứng : nhức đầu, nôn mửa, nhìn thấy một thành hai, đĩa thị giác (optic disk) ở đáy mắt bị phù lên. Tình trạng có thể tự nhiên khỏi, nhưng đôi khi cần phải chữa trị để bảo vệ thị lực cho bệnh nhân.

Benign prostatic hyperplasia, BPH : phì đại lành tính tuyến tiền liệt, thường xảy ra cho đàn ông từ 50 tuổi trở lên, ép vào niệu đạo gây đái khó phải rặn, giòng tiểu yếu, đái nhiều lần cả ngày lẫn đêm, đôi khi buồn đái chạy không kịp són ra cả quần. Chữa trị bằng thuốc, phẫu thuật lạng hoặc cắt bỏ tuyến.

Beriberi : rối loạn dinh dưỡng do thiếu vitamin B1, xảy ra nếu ăn gạo giả quá trắng làm mất đi chất cám chứa nhiều vitamin B1. Có hai dạng : dạng ướt gây phù nề ở mặt, chân ; dạng khô làm cơ bắp teo lại. Cả hai đều có thoái hóa dây thần kinh và bệnh nhân thường chết vì suy tim, nếu không được can thiệp kịp thời.

Beta-blockers : loại dược phẩm dùng để chữa trị các rối loạn nhịp tim, đau thắt ngực, cao huyết áp. Thuốc có thể gây co thắt phế quản, nên ai bị suyễn cần phải hỏi ý kiến bác sĩ.

Bezoar : khối các vật lạ nuốt vào dạ dày, xảy ra cho bệnh nhân tâm thần. Các vật này , ví dụ tóc, tích tụ lại thành khối và có thể gây tắc dạ dày phải mổ lấy ra.

Bicuspid valve : van hai lá, ngăn tâm nhĩ với tâm thất trái.

Bile : mật, do gan tiết ra và tích tụ trong túi mật để từng lúc đổ vào tá tràng, giúp tiêu hóa chất béo. Thành phần gồm muối mật, sắc tố mật, cholesterol.

Bile duct : ống dẫn mât, chuyên chở mật từ gan ra. Hệ thống gồm những ống nhỏ tập trung lại vào ống dẫn mật gan (hepatic duct), rồi cùng với ống dẫn mật của túi mật (cystic duct) hợp thành ống dẫn mật chung (common hepatic duct).

Bile pigment : sắc tố mật, do huyết sắc tố haemoglobin của hồng huyết cầu phân hủy và tiết ra trong mật. Có hai loại : bilirubin màu cam hay vàng và biliverdin màu xanh lá cây. Các sắc tố mật phối hợp với chất chứa trong ruột làm phân có màu nâu.

Bile salts : muối mật, cần cho sự nhũ hóa (emulsification) các chất béo.

Biliary atresia : hẹp ống dẫn mật bẩm sinh, gây chứng vàng da nghiêm trọng cho trẻ sơ sinh.

Biliary colic : đau dữ dội ở bụng trên bên phải, do tắc ở túi mật hay ống dẫn mật, thường là vì sạn mật, một ít trường hợp vì ung thư ở đầu tụy tạng (pancreas) đè lên.

Biochemistry : sinh hóa học, môn học về các tiến trình hóa học xảy ra trong sinh vật.

Biofeedback training : (tâm lý) một kỹ thuật theo đó một người dùng những thông tin về các chức năng của cơ thể không nhận thức được, ví dụ huyết áp, để tự kiểm soát chức năng đó. Kỹ thuật giúp chữa trị một số bệnh liên quan đến căng thẳng tinh thần như cao huyết áp, lo  âu, nhức đầu nửa bên (migraine).

Biopsy : sinh thiết, lấy một mẩu mô sống từ một cơ quan của cơ thể để xét nghiệm dưới kính hiển vi, dùng chẩn đoán ung thư và một số bệnh khác.

Bipolar disorder : (tâm thần) bệnh về cảm xúc gồm hai hình thức trái ngược và xen kẽ nhau : trầm cảm và hưng cảm (manic depressive illness).

Birthmark : vết chàm có lúc mới sinh, gồm bớt, tàn nhan, nốt ruồi.

Bisexual : lưỡng tính dục, bị lôi cuốn tình dục với cả hai phái.

Blackwater fever : sốt đái nước đái đen, một thể nghiêm trọng của sốt rét, do loại ký sinh Plasmodium falsiparum gây ra, làm vỡ hàng loạt hồng huyết cầu giải phóng huyết sắc tố trong nước tiểu. Bệnh nhân còn bị vàng da, gan lách to lên, thiếu máu, kiệt sức.

Bladder : bọng đái, cơ quan chứa nước tiểu chảy từ thận xuống qua niệu quản (ureter) rồi bài tiết ra ngoài qua niệu đạo (urethra). Nơi tiếp giáp giữa bọng đái và niệu đạo là cổ bọng đái (bladder neck), bên ngoài ở đàn ông có tuyến tiền liệt. Hoạt động của cổ bọng đái do hệ thần kinh tự trị vùng chậu điều khiển.

Bệnh ở bọng đái gồm viêm nhiễm khuẩn, sạn, u lành và ác tính, chấn thương tủy sống gây hư hại dây thần kinh điều khiển hoạt động của bọng đái, các bệnh như tiểu đường, đa xơ thần kinh hệ (multiple sclerosis), già lẫn… ảnh hưởng đến chức năng của bọng đái.

Bleeding disorders : bệnh về chảy máu, có nhiều nguyên nhân : 1- rối loạn đông máu bẩm sinh, ví dụ bệnh ưa chảy máu (haemophilia), Christmas disease, Von Willebrand’s disease, hoặc mắc phải do uống thuốc chống đông máu, suy gan, bệnh đường ruột. 2- tiểu cầu (platelet) thiếu vì ung thư máu. 3- mạch máu bị tổn hại vì cơ thể thiếu vitamin C, vì uống nhiều thuốc steroid.

Blennorrhagia : dịch nhờn có mủ từ niệu đạo tiết ra, do nhiễm khuẩn, ví dụ khuẩn lậu mủ.

Blepharitis : viêm bờ mi mắt, gồm thể có vảy, thể loét mạn tính và thể do dị ứng. Blepharospasm : co giật mi mắt, do đau mắt, hoặc là hình thái của chứng rối loạn trương lực Blister : bóng nước, một chỗ da phồng chứa dịch lỏng, đôi khi là máu.

Blocking : (tâm thần) ngưng chặn dòng suy nghĩ hay lời nói. Tình trạng này nếu kèm với cảm giác các ý nghĩ biến mất trong trí là một triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt.

Blood : máu, gồm tế bào máu và một môi trường lỏng gọi là huyết tương (plasma). Người lớn trung bình có 5 lít máu (70 mililít máu cho mỗi kí lô nặng của cơ thể).

Blood cells : tế bào máu, gồm ba loại : 1- hồng cầu (red blood cells). 2- bạch cầu (white blood cells) chia ra ba phân loại : bạch cầu hạt (granulocytes), lymphô bào (lymphocytes) và bạch cầu đơn nhân (monocytes). 3- tiểu cầu (platelets), có vai trò trong sự đông máu.

Blood clot / blood coagulation : cục máu / sự đông máu.

Blood group : nhóm máu, được phân loại dựa trên kháng nguyên hiện diện ở bề mặt hồng cầu Có hơn 30 hệ thống nhóm máu, quan trọng nhất là hệ thống ABO, căn cứ trên sự có hay không có kháng nguyên A và B. Nhóm máu A có kháng nguyên A, nhóm B kháng nguyên B, nhóm AB có cả hai và nhóm O không có kháng nguyên nào.

Ngoài ra, máu còn được phân loại thành hai nhóm : nhóm có kháng nguyên D, gọi là Rhesus dương (Rh+, 85% trong dân chúng) và không có kháng nguyên D là Rhesus  âm (Rh-, 15% trong dân chúng). Như vậy, để cho đầy đủ, máu được phân loại là O Rh+ hoặc O Rh-, A Rh+ hoặc A Rh- v.v.

Trong việc truyền máu, người thuộc nhóm A có thể nhận được máu A và O, B nhận máu B và O, AB nhận bất cứ máu loại nào và O chỉ nhận được máu O mà thôi. Ngoài ra, còn phải phân biệt xem người nhận thuộc Rh+ hoặc Rh-.

Blood poisoning : nhiễm độc máu, do độc tố của khuẩn tiết ra, hoặc do quá nhiều khuẩn hiện diện trong máu, gây cho bệnh trở nên trầm trọng.

Blood pressure : huyết áp, áp suất của máu trên thành các động mạch chính. Áp suất cao nhất khi các tâm thất co bóp lại (áp suất tâm thu, systolic pressure) và thấp nhất khi các tâm thất giãn ra và máu đổ về đấy (áp suất tâm trương, diastolic pressure). Ðộ huyết áp thay đổi với số tuổi, một người trưởng thành trẻ tuổi có huyết áp tâm thu khoảng 120 milimét và tâm trương khoảng 80 milimét, ghi tắt là 120/80.

Huyết áp được điều chỉnh dưới sự kiểm soát của hệ thần kinh giao cảm và các hóc môn.

Blood sugar : đường máu, nồng độ ghi bằng millimol trong một lít máu. Con số bình thường là 3-5 millimol / lít. Việc định lượng đường máu được tiến hành trong nhiều loại bệnh, đặc biệt là tiểu đường

Blue baby : bé sơ sinh có nước da xanh tái, do dị tật tim bẩm sinh.

Body mass index, BMI : chỉ số khối thân thể, cho biết mức độ cao thấp trong vấn đề bảo quản sức khoẻ. Chỉ số được tính như sau : lấy cân nặng bằng kí lô chia cho bình phương của chiều cao bằng mét ; ví dụ nặng 70 kí lô, cao 1 mét 60, chỉ số sẽ là 70 : 1.60 x 1.60 = 27.34.

BMI trung bình là 20-25, dưới 20 là có cân nặng thấp so với chiều cao, từ 25-30 là hơi quá cân lượng, 30 đến 35 là béo và trên nữa là phì nộn.

Boil (furuncle) : mụt nhọt, thường do khuẩn Staphylococcus aureus gây ra. Người hay bị mọc mụt nên được kiểm tra về bệnh tiểu đường.

Bonding : (tâm lý) sự tạo một mối liên quan mật thiết về tâm lý và tình cảm giữa đứa trẻ và cha mẹ nó, nhất là mẹ. Ðiều này rất cần thiết để về sau sự phát triển tình cảm của nó được lành mạnh tốt đẹp.

Bone : xương, một mô liên kết đặc và cứng chứa đựng calcium carbonate và calcium phosphate. Xương gồm thân (diaphysis) và đầu (epiphysis), thành phần từ ngoài vào là : màng xương (periosteum) với nhiều mạch máu và dây thần kinh ; xương đặc (compact bone) ; xương xốp (spongy bone) chứa tủy (marrow) màu vàng ở thân và đỏ ở đầu xương. Hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu được sản xuất tại tủy đỏ.

Khi bào thai được 5-6 tuần, xương còn ở tình trạng sụn và bắt đầu xương hóa từ 8 tuần trở đi. Sự tăng trưởng có sự hài hòa giữa tế bào tạo xương (osteoblast) và tế bào hủy xương (osteoclast), đặt dưới sự kiểm soát của các hóc môn tuyến yên (pituitary gland), tuyến giáp và cận giáp (thyroid and parathyroid glands), hóc môn phái tính.

Bone cancer : ung thư xương, gồm : 1- ung thư tiên phát, loại sarcoma (osteosarcoma) thường xảy ra ở xương chân con nít và người trẻ tuổi ; loại sarcoma sụn (chondrosarcoma) và ung thư tủy

(myeloma). 2- thứ phát từ các nơi như vú, phổi, tuyến tiền liệt, tuyến giáp và thận di căn đến. Chữa trị bằng mổ cắt chi, xạ trị, thuốc kháng ung thư và hóc môn.

Bone graft : ghép xương, lấy mẩu xương ở một nơi của cơ thể ghép vào chỗ xương hư để làm một cái sườn cho xương mới mọc ra. Phẫu thuật được áp dụng giúp xương gẫy chóng lành, thay thế phần xương bệnh phải mổ bỏ, làm chốt nối hai xương lại với nhau, chỉnh hình xương mặt và sọ.

Bone marrow / bone marrow biopsy : tủy xương, gồm tủy đỏ và tủy vàng. Tủy đỏ là nơi sản xuất ra các tế bào máu và ở người lớn chỉ còn tập trung tại xương sống, xương đòn (clavicle), xương bả vai, xương ức, xương chậu và xương sọ / sinh thiết tủy xương, bằng cách hút hay khoan xương ức hoặc bìa trên xương chậu, để xét nghiệm thành phần tế bào máu ở đấy cùng những tế bào bất thường khác.

Bone marrow transplant : Kỹ thuật ghép tủy xương bình thường thay tủy xương bị ung thư hoặc có những tế bào bất thường. Khoảng 20-50 mililít tủy đỏ được lấy ra từ xương ức hay xương chậu của người hiến tặng rồi truyền vào tĩnh mạch bệnh nhân.

Người hiến tặng thường là anh chị em của người nhận, xác suất tương hợp là 25% cho mỗi người. Biến chứng : nhiễm khuẩn, phần ghép phản ứng chống lại ký chủ (graft versus host) gây triệu chứng như nổi đỏ ở da, vàng da, tiêu chảy, suy thận cấp tính

Borborygmus : sôi ruột, do chuyển động của dịch và khí trong ruột.

Borderline personality disorder : (tâm thần) một loại rối loạn nhân cách, người mắc phải không thể duy trì được quan hệ bền vững với bất cứ ai. Cảm xúc của họ thay đổi nhanh và vô cớ, hay giận dữ nổi cơn bốc đồng, có người còn tự hại mình qua những hành động như đánh bạc, trộm cắp, toan tính quyên sinh.

Botulinum toxin : độc tố rất mạnh của khuẩn Clostridium botulinum. Với một liều thật nhỏ, độc tố được sử dụng để chữa các chứng co giật cơ bắp quanh mắt, co giật chân tay trong bệnh liệt não (cerebral palsy), nhăn da mặt v.v.

Botulism : một dạng ngộ độc thực phẩm nặng gây ra bởi độc tố của khuẩn Clostridium botulinum, nạn nhân chết vì suy tim và suy hô hấp do rối loạn chức năng của trung tâm điều hành tim và phổi thuộc não bộ. Khuẩn phát triển trong thực phẩm tồn trử không đúng cách, ví dụ thịt hộp để lâu ngày. Ðộc tố có thể bị tiêu diệt nếu thức ăn được nấu thật chín.

Brachytherapy : một liệu pháp xạ trị, dùng sợi dây hoặc hạt chứa phóng xạ đặt gần sát hay bên trong u bướu độc, ví dụ u ung thư tuyến tiền liệt.

Brady- : tiếp đầu ngữ chỉ sự chậm, ví dụ bradycardia = tim đập chậm, dưới 50 nhịp mỗi phút.

Bradykinesia : (thần kinh) vận động chậm, một triệu chứng của bệnh Parkinson gồm khó khăn khi bắt đầu cử động, cử động rồi thì tiến hành một cách chậm chạp và mất khả năng điều chỉnh tư thế.

Braille : chữ braille, một hệ thống gồm những kiểu chấm nổi tượng trưng cho mỗi chữ cái, do bác sĩ Louis Braille lập ra năm 1837. Người mù sờ vào có thể đọc được chữ.

Brain : (thần kinh) não, một khối lớn và rất phát triển của mô thần kinh, trọng lượng trung bình là 1.400 gram, bằng 2% sức nặng của cơ thể nhưng nhận đến 20% số máu từ tim bơm ra.

Não gồm hai bán cầu, mỗi bên có 4 thùy đảm trách nhiệm vụ khác nhau : thùy trán (frontal lobe), đỉnh (parietal lobe), thái dương (temporal lobe) và chẩm (occipital lobe).

Não có hai lớp, bên ngoài là vỏ não (cerebral cortex) gồm chất xám, dưới đó là chất trắng. Nằm sâu trong não có một số thành phần quan trọng : hạch đáy (basal ganglia) ; đồi thị (thalamus) chuyển cảm giác đến não ; hạ đồi thị (hypothalamus) điều hòa các hóc môn của tuyến yên, thân nhiệt, ăn và uống, tình dục, giấc ngủ ; tuyến yên (pituitary gland) tiết hóc  môn điều hòa các hóc môn khác trong cơ thể ; hệ viền (limbic system) ; bao trong (internal capsule) gồm chùm thần kinh bó tháp từ não chạy xuống tủy sống ; thể chai (corpus callosum) nối hai bán cầu với nhau.

Tuy não gồm 2 bán cầu nhưng các chức năng quan trọng như nói, viết là do một bên có vai trò vượt trội hơn đảm trách, bên trái đối với người quen sử dụng tay phải, bán cầu kia giữ phần định hướng về không gian, về sáng tạo và nghệ thuật.

Bên ngoài não (và tủy sống) là lớp màng não (meninges) trong đó có thủy dịch lưu thông gọi là não thủy (cerebrospinal fluid, CSF) nuôi dưỡng và bảo vệ hệ thần kinh ; não thủy cũng lưu thông trong 4 hốc của não (ventricle).

Việc chuyển tín hiệu do chất truyền dẫn thần kinh (neurotransmitter) đảm trách : Noradrenaline, Serotonin, Dopamine và Gamma aminobutyric acid (GABA)

Những khuyết tật, rối loạn ở não có thể là : 1- tật bẩm sinh như hội chứng Down, não nhỏ hơn bình thường (microcephaly), não thủy tích tụ trong hốc não (hydrocephalus). 2- nguồn tiếp tế máu và khí oxi bị gián đoạn nhất là khi sinh đẻ, gây chứng liệt não (cerebral palsy), tai biến mạch máu não. 3- chấn thương sọ não. 4- nhiễm khuẩn và siêu khuẩn. 5- u bướu lành và ác tính. 6- thoái hóa não trong bệnh đa xơ thần kinh hệ (multiple sclerosis), bệnh Parkinson, bệnh Alzheimer. 7- bệnh tâm thần.

Brain death : (thần kinh) não chết, toàn bộ chức năng não và cuống não của một người ngừng hoạt động và không hồi phục lại, nên người ấy được coi là đã chết mặc dù tim vẫn đập, phổi vẫn thở (nhờ trợ khí cụ). .

Brain haemorrhage : (thần kinh) xuất huyết não, bên trong hoặc quanh não. Có 4 loại : xuất huyết bên ngoài lớp vỏ cứng của não (extradural haemorrhage) hoặc dưới lớp ấy (subdural haemorrage), cả hai thường do chấn thương ; xuất huyết dưới lớp màng nhện (subarachnoid haemorrhage) và bên trong não (intracerebral haemorrhage), do vỡ động mạch não vì cao huyết áp, vì phồng động mạch (aneurysm), cả hai là một trường hợp khẩn cấp.

Brainstem : (thần kinh) cuống não, phần trên của tủy sống phình to ra và dính với não, chuyển tín hiệu giữa não và tủy sống, kiểm soát những chức năng cơ bản như thở, nhịp tim, huyết áp, tiêu hóa, giấc ngủ.

Brain tumour : (thần kinh) u bướu não, gồm loại lành tính (ví dụ u bướu màng não, meningioma) hay ác tính (ví dụ glioma, medulloblastoma). Cả hai làm tăng áp suất trong não, có thể gây nhức đầu, động kinh, mờ mắt, thấy hai hình v.v.

Breastbone (sternum) : xương ức, nằm phía trước ngực.

Breast : (sản phụ khoa) vú, gồm mô mỡ và nhiều tiểu thùy sản xuất sữa chảy vào các ống dẫn nhỏ rồi ra ngoài ở núm vú. Bệnh có thể xảy ra là : 1- nhiễm khuẩn gây viêm sưng (mastitis), nếu không chữa trị sẽ dẫn đến mủ tụ lại một chỗ (breast abscess). 2- u bướu, lành tính như nang nước (cyst), u xơ tuyến (fibroadenoma), hoặc ác tính như ung thư. 3- rối loạn về hóc môn, vú căng đau trước khi có kinh, chứng sữa chảy ra nhiều (galactorrhoea).

Breast cancer : (sản phụ khoa) ung thư vú, xảy ra nhiều nhất trong các loại ung thư của phụ nữ, tỷ lệ 1 trên 14 người. Nguyên nhân : 1- di truyền, phụ nữ mang gin BRCA1 và BRCA2 đã chuyển hóa (mutation) có 55%-85% nguy cơ mắc phải lúc còn trẻ, thân nhân (mẹ, chị em) bị ung thư vú. 2- hóc môn : uống thuốc ngừa thai lâu ngày, có kinh sớm, tắt kinh muộn, không sinh đẻ. 3- ăn nhiều chất béo, người mập phì to lớn đẫy đà.

Dấu hiệu gồm bướu vú sờ thấy, dịch màu nâu hoặc máu tiết ra ở núm vú, núm vú lộn thụt vào, một vùng da vú nhăn như vỏ cam, hạch ở nách. Ðịnh bệnh qua khám lâm sàng, chụp X quang vú (mammography), hút dịch ở nang vú, sinh thiết. Chữa trị bằng phẫu thuật cắt một phần hoặc toàn bộ vú, phối hợp với xạ trị, thuốc chống ung thư, hóc môn như Tamoxifen. Arimidex, Femara v.v.

Breath holding attacks : cơn ngưng thở cố ý của trẻ con 1-2 tuổi, biểu lộ sự không bằng lòng hay tức giận của nó, để cha mẹ chiều theo ý. Nên để mặc, cơn sẽ hết vào khoảng 4-5 tuổi.

Breathlessness : thở nhanh và nông.

Breech presentation : (sản phụ khoa) chửa ngôi mông, chửa ‘ngược’.

Bronchiectasis : giãn phế quản. Nguyên nhân : bẩm sinh, ho gà, sởi, u bướu mọc ở phế quản, vật lạ rơi vào đấy. Bệnh nhân ho khạc ra đàm có mủ lẫn máu. Ðịnh bệnh qua khám lâm sàng, chụp Xquang phế quản, soi phế quản. Chữa trị bằng kháng sinh, đặt bệnh nhân nằm ở thế để đàm nhớt dễ thoát ra, giải phẫu cắt phổi nơi có phế quản giãn.

Bronchiole / bronchiolitis : tiểu phế quản, tiếp nối phế quản và chia ra nhiều nhánh nhỏ khác, tận cùng là phế nang (alveolus) / viêm tiểu phế quản do siêu khuẩn Respiratory syncytial virus, thường xảy ra cho hài nhi và trẻ con, gây khó thở, da và môi xanh tím. Chữa trị bằng thở khí oxi, sinh lý liệu pháp để đàm nhớt dễ thoát ra, đôi khi phải dùng đến máy trợ thở (ventilator) ; kháng sinh chỉ được cấp khi có bội nhiễm khuẩn.

Bronchitis : viêm phế quản, có thể là cấp hay mạn tính, do khuẩn, siêu khuẩn, không khí ô nhiễm, hút thuốc lá. Trong viêm mạn tính, phế quản bị hẹp và tắc, tiết ra nhiều chất nhờn nên bệnh nhân ho và khạc đàm nhớt mỗi ngày trong nhiều năm tháng. Bệnh thường kết hợp với phế thủng (emphysema), gọi chung là bệnh nghẹt tắc phổi mạn tính (chronic obstructive pulmonary disease, COPD), lâu ngày đưa đến suy tim. Chữa trị bằng thuốc giãn phế quản, thở khí oxi và tuyệt đối ngưng thuốc lá.

Bronchodilatator drug : thuốc giãn phế quản dùng trong các bệnh hen suyễn, viêm phế quản mạn tính.

Bronchography : chụp phế quản bằng cách bơm chất cản quang vào đấy. Trước kia dùng để định bệnh giãn phế quản, nhưng nay ít còn dược sử dụng vì đã có nhiều phương cách khác như CT scan, soi phế quản.

Bronchopneumonia : một loại sưng phổi, ổ viêm nhiễm gồm những mảng nhỏ lan khắp phổi, thay vì tập trung tại một thùy phổi. Thể sưng phổi này thường là nguyên nhân gây chết cho những ai mắc bệnh mạn tính.

Bronchoscopy : soi phế quản để định bệnh và chữa trị.

Bronchus, số nhiều = bronchi : phế quản.

Bruxism : thói ngiến răng.

Bulimia : (tâm thần) bệnh ăn uống vô độ, xảy ra cho nữ giới từ 15-30 tuổi. Ðây là một thể  của bệnh chán ăn tâm thần (anorexia nervosa) : sau một thời gian dài ăn uống rất ít, bệnh nhân phát lên thèm ăn rồi ăn uống vô độ ; nhưng vì sợ béo phì nên họ chọc tay vào mồm cho mửa ra, hoặc uống thuốc xổ, tập thể dục nhiều. Chữa trị bằng cách theo dõi vấn đề ăn uống của họ, tâm lý liệu pháp, thuốc chống trầm cảm. Bệnh dễ tái lại.

Bunion : viêm khớp ngón chân cái – xương thứ nhất bàn chân. Bìu (bursa) chứa hoạt dịch ở đó sưng lên, ngón cái lệch về phía các ngón khác. Nguyên nhân thường do đi giày không vừa chân, chữa trị bằng giải phẫu.

Burn : phỏng, có nhiều mức độ : độ một chỉ ảnh hưởng lớp da ngoài (biểu bì) ; độ hai, cả lớp bì và biểu bì bị tổn hại ; độ ba, toàn bộ bề dày của da và các mô bên dưới bị ảnh hưởng. Trong phỏng nặng (từ 15% hay hơn cho người lớn, 10% hay hơn cho trẻ con), cơ thể mất nhiều huyết tương gây sốc nặng, cần được xử lý ngay. Phỏng còn thêm nguy cơ bị nhiễm khuẩn, nên sự chăm sóc phải giữ vô trùng tối đa.

Bursa / bursitis : túi, bìu bên ngoài màng bao khớp, chứa hoạt dịch giúp giảm bớt sự ma sát của khớp / viêm túi do chấn thương, nhiễm khuẩn, bệnh của khớp, thường xảy ra ở vai, khuỷu tay, đầu gối, ngón chân cái.

Bypass operation : mổ đường vòng, áp dụng ở động mạch, tĩnh mạch và ruột. Tại động mạch, mổ được tiến hành trong trường hợp tắc nghẽn mạch máu vành tim, mạch máu cổ, mạch máu chân ; tại tĩnh mạch, áp dụng trong tăng áp suất tĩnh mạch cửa (portal hypertension) do gan bị bệnh, ví dụ chai gan ; ở ruột, nối đường vòng để khỏi tắc khi ung thư đã lan ra nhiều không cắt bỏ được.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn