» Case 8 Case 8 – Y học online

Case hồi sức

Case 8



Bạn được gọi để kiểm soát đường thở một nam vận động viên quyền Anh 22  tuổi, người đã nhập viện ICU do thở rít khi sau khi bị chấn thương vùng đầu và cổ trong một trận đấu quyền anh chuyên nghiệp tối nay. Anh ấy đang bị tiêu cơ vân cấp và bị chấn động não. Anh ấy đã nhầm lẫn về mốc thời gian những sự kiện tối nay. CT scan sọ não anh ấy cho thấy phù não nhẹ và không có bằng chứng xuất huyết nội sọ. Anh ấy đáp ứng với kích thích âm thanh trầm. Anh ấy cao 72 inch (183 cm) và nặng 80 kg.

ANSWERS TO CASE 8:

Kiểm soát đường thở/ bệnh nhân suy hô hấp

Tóm tắt: võ sỹ quyền anh 22 tuổi này có thở rít khi hít vào, điều này chỉ ra suy hô hấp sắp xảy ra do tắc nghẽn đường thở trên hoặc xẹp phổi

PHÂN TÍCH

Mục tiêu

  1. Hiểu được chỉ định và chống chỉ định cho đặt ống NKQ (ETI)
  2. Hiểu được những phương pháp thay thế trong kiểm soát đường thở
  3. Hiểu được những biến chứng phổ biến nhất trong đặt ống NKQ
  4. Hiểu được yêu cầu các bước và những dụng cụ cho đặt ống NKQ

Xem xét

Vận động viên quyền anh 22 tuổi này xuất hiện chấn thương vùng đầu và cổ và có biểu hiện thở rít khi hít vào, điều này dự báo có thể là xẹp phổi. Ở đây yêu cầu RSI để bảo vệ và kiểm soát đường thở. Quan điểm “chờ đợi và thấy rõ” trong trường hợp bệnh nhân này sẽ có thể dẫn đến hậu quả nặng nề. Một ống thông mũi dạ dày có thể được yêu cầu để làm giảm khả năng viêm phổi hít phải máu. Dự phòng viêm phổi hít được bắt đầu với nâng đầu giường 45 o theo phương thẳng đứng. Thở máy được bắt đầu với phương thức kiểm soát hỗ trợ (AC) 22 nhịp thở/ phút với thể tích khí lưu thông 500 mL, FiO2 100% và PEEP 5. Thông khí phút cao thì thận trọng để làm giảm áp lực nội sọ

APPROACH TO:

 Airway Management/Ventilator Support

ĐẶT ỐNG NKQ TRONG CÁC HỆ THỐNG CHĂM SÓC CHUYÊN SÂU

Chỉ định đặt ống NKQ phổ biến nhất là để điều trị hạ oxy do suy hô hấp và giảm thông khí tăng CO2 máu. Điều trị bước đầu giảm oxy máu bắt đầu với ống thông lưu lượng thấp đặt vào mũi và cung cấp FiO2 khoảng 3% / L sau đó nâng dần đến 100% khi sử dụng 1 mặt nạ không thở lại hoặc liệu pháp oxy dòng cao. Những bệnh nhân bị suy giảm nhận thức và không có khả năng bảo vệ đường thở của họ là chỉ định thứ hai cho đặt ống NKQ. Người ta nên đảm bảo rằng bệnh nhân không có bất kỳ giấy tờ nào từ chối đặt ống NKQ và thở máy hoặc lệnh không đặt ống NKQ (DNI) hoặc lệnh không hồi sức (DNR) hiện tại. Mong ước của bệnh nhân hoặc của gia đình họ hoặc người giám hộ hợp pháp nên được cân nhắc trước khi tiến hành những biện pháp can thiệp xa hơn. Chỉ định thứ hai khác của ETI bao gồm viêm phổi hít đáng kể chất dạng hạt.

ETI có thể chỉ định cho những bệnh nhân cần nội soi rửa phế quản và phổi, những người bị tổn thương thần kinh hoặc chấn thương cần an thần sâu và đặt ống NKQ để thực hiện những kiểm tra hình ảnh cần thiết hoặc những quy trình chẩn đoán và điều trị, và những cá nhân trong trạng thái động kinh cần an thần sâu hoặc tê liệt để điều trị co giật.

Đặt ống NKQ

Đặt ống NKQ (ETI) được định nghĩa là phương pháp kiểm soát đường thở, và một là quy trình phổ biến để gây mê toàn thân cho các bệnh nhân. Mặt nạ đường thở thanh quản (LMA), một dụng cụ mà không yêu cầu ống phải đi vào khí quản hoặc đặt để soi thanh quản, và là một sự thay thế cho những bệnh nhân được lên lịch phẫu thuật ngắn. LMA là một kiểu ống NKQ ngắn mà được bao quanh và gắn với 1 mặt nạ thanh quản. Đỉnh của mặt nạ, điểm cuối mở hướng xuống lưỡi, được đẩy về phía sau lưỡi gà. LMA thì hiệu quả như là một lựa chọn ngắn hạn và không yêu cầu chuyên môn sâu khi đặt như ETI. Những bệnh nhân này có thể cần phạm vi kiểm soát đường thở từ những người dự kiến sẽ gây mê cho bệnh nhân bị bệnh nặng với bệnh đa hệ thống hoặc chấn thương. Những tình huống cấp cứu chẳng hạn như ngừng tim hoặc ngừng thở cũng yêu cầu cần đặt ống NKQ. Nó có hiệu quả trong những trường hợp bảo vệ đường thở do viêm phổi hít, giải quyết bão hòa oxy không đầy đủ hoặc để thông khí, và cho những bệnh nhân tắc nghẽn đường thở hiện tại hoặc sắp xảy ra. Những chỉ định này làm tăng sự phức tạp hơn trong thời đại công nghệ tiên tiến của hệ thống cung cấp oxy và những hình thức thông khí không xâm nhập. Những hình thức này có thể được phân chia thành 3 nhóm cơ bản: (1) suy hô hấp hạ oxy máu (giảm Po2), (2) Giảm thông khí tăng CO2 máu (bao gồm ngừng tim), quá liều thuốc (tăng Pco2), và (3) Suy giảm mức độ nhận thức, đòi hỏi phải bảo vệ đường thở để dự phòng viêm phổi hít.

Xuất tiết quá mức và bệnh nhân không có khả năng làm sạch những chất bài tiết là chỉ định quan trọng để bảo vệ đường thở và đặt NKQ hơn là không có phản xạ hầu họng. Thiếu phản xạ hầu họng thì không phải là dự báo nhạy cho đặt ống NKQ để kiểm soát đường thở. Kiểm tra phản xạ hầu họng nên được thực hiện với dụng cụ hút cầm tay, vì nó có thể gây ra nôn và gây viêm phổi hít. Sự lắng đọng số lượng lớn những chất bài tiết trong khoang miệng, không có khả năng làm sạch, là một chỉ định cho ETI. Nếu bệnh nhân có thể nói, hợp tác, và trả lời những câu hỏi bằng miệng, sau đó người ta nên cân nhắc một thử nghiệm NIV (noninvasive ventilation – thông khí không xâm nhập), miễn là nó không trì hoãn đặt ống NKQ có thể xảy ra. Thông khí hỗ trợ bằng liệu pháp NIV có thể cung cấp thêm thời gian để điều trị những tình trạng y khoa cơ sở với steroids, giãn phế quản, lợi tiểu, nitrates, hoặc những thuốc khác.

Suy hô hấp hạ oxy máu

Suy hô hấp hạ oxy máu hoặc suy hô hấp hạ oxy máu type 1 được định nghĩa là hạ oxy máu không tăng CO2. Sự suy giảm trao đổi oxy qua màng mao mạch phế nang phổi (>A-a gradient) dẫn đến hạ oxy máu, dẫn đến làm giảm sự phân phối oxy đến các mô và tế bào. Một cách nhanh chóng và dễ dàng để tính toán A-a gradient được chỉ ra như sau. Bạn sẽ không có một A-a gradient (-) khi được xác định bằng phương trình:

A-a gradient = (Fio2 x 7) – PAo2 – (PAC02 x 1,2)     bình thường <20 mm Hg

Điều trị ban đầu tất cả những nguyên nhân gây hạ oxi máu bao gồm: (a) bảo đảm một đường thở thông thoáng, (b) cung cấp thông khí đầy đủ, và (c) cung cấp oxy bổ xung. PAo2 có giá trị 60 mmHg hoặc độ bão hòa oxy động mạch 90% đến 92 % thì thường được đề nghị là một giá trị tối thiểu có thể chấp nhận được. Những bệnh nhân hạ oxy máu sẽ cải thiện khi cung cấp Fio2 tăng cao hơn, chỉ ra sự không tương hợp giữa thông khí và tưới máu (ventilation and perfusion mismatch – VQ mismatch) là nguyên nhân cơ sở sinh lý bệnh. Nếu hạ oxy máu là kháng trị với nồng độ Fio2 cao, nguyên nhân có thể nhất là shunt (VD ARDS) 

Điều trị hạ oxy máu bắt đầu bằng việc bảo đảm đường thở thông thoáng để thông khí và bão hòa oxy đầy đủ cho bệnh nhân. Những thử nghiệm thông khí không xâm nhập có thể được chỉ định, nhưng điều này không nên trì hoàn đặt ống NKQ và thở máy nếu cần thiết. Nếu độ bão hòa oxy kém cải thiện mặc dù Fio2 100%, sau đó ETI và thở máy nên được thực hiện và PEEP có thể được thêm vào.

Giảm thông khí tăng CO2 máu (PAC02)

Giảm thông khí tăng CO2 máu xảy ra khi không có khả năng giải phóng CO2 ra khỏi phế nang. Tình trạng này có thể là hậu quả của rối loạn chức năng phổi trước đó hoặc thứ phát liên quan với những nguyên nhân tim, thần kinh, hoặc chuyển hóa.

Những triệu chứng và những dấu hiệu của tăng CO2 máu được giải thích bởi sự kiện tăng PAC02 dẫn đến giãn mạch, lú lẫn, an thần, và nhiễm toan. Chẩn đoán tăng CO2 máu được xác định bằng khí máu động mạch với PAC02 >45 mm Hg và nhiễm toan máu thứ phát đáng kể do tăng PAC02. Tốc độ thay đổi của PAC02 sẽ ảnh hưởng đến những dấu hiệu và triệu chứng. Nếu thay đổi PAC02 từ từ, thì những triệu chứng khởi đầu chẳng hạn như hôn mê, đau đầu, và lú lẫn sẽ tăng dần dần. Tuy nhiên, nếu PAC02 thay đổi nhanh, thì những triệu chứng khởi đầu sẽ trở nên rõ ràng hơn. Điều trị giảm thông khí tăng CO2 máu bao gồm bổ sung oxy và bảo đảm cho bệnh nhân có đường thở thông thoáng. Điều trị nên hướng đến nguyên nhân cơ bản. Nếu tình trạng của bệnh nhân không cải thiện với điều trị ban đầu, thì tăng thông khí phút là cần thiết. Thông khí không xâm nhập áp lực dương nên được thử nghiệm đầu tiên trừ khi có yêu cầu rõ ràng đặt ống NKQ. Chỉ định tiến tới đặt ống NKQ là thông khí thất bại mặc dù CPAP, những dấu hiệu sắp suy hô hấp chẳng hạn như khó thở tăng, thở nhanh, sử dụng những cơ hô hấp phụ  và thể tích khí lưu thông thấp

Suy giảm nhận thức và bảo vệ đường thở

Những bệnh nhân với thang điểm hôn mê Glasgow (GCS) giá trị bằng 8 hoặc thấp hơn nên được đặt ống NKQ bởi vì suy giảm mức độ nhận thức, tiếp tục giảm thông khí, và cần bảo vệ đường thở. Những bệnh nhân hôn mê có giảm sự kiểm soát hô hấp, giảm thông khí, tắc nghẽn đường thở và giảm khả năng làm sạch những chất tiết. Khoảng 30% bệnh nhân xuất huyết dưới nhện và chấn thương sọ não có thể phát triển phù não, tổn thương phổi nặng cấp tính ở người lớn, hoặc ARDS. Khi có sự lo ngại tăng áp lực nội sọ và thoát vị móc hồi hải mã (uncal herniation) (thoát vị xuyên lều), tăng thông khí với nhiễm kiềm hô hấp đã được chỉ ra là có lợi bằng cách gây nên co mạch não. Propofol để an thần cũng được chỉ ra là làm giảm áp lực nội sọ. Tăng thông khí kéo dài để dự phòng áp lực nội sọ nên tránh bởi vì nguy cơ tổn thương thiếu máu cục bộ não. Những chỉ định khác cho đặt ống NKQ bao gồm chấn thương tổn thương hoặc sưng nề vùng mặt hoặc cổ, hoặc những quá trình tắc nghẽn đường thở khác.

Chống chỉ định đặt ống nội khí quản

Bởi vì tính khẩn cấp của thông khí hỗ trợ hoặc kiểm soát đường thở, hiện có một số chống chỉ định tương đối cho đặt ống NKQ. Soi thanh quản trực tiếp là chống chỉ định ở những bệnh nhân bị cắt ngang một phần khí quản bởi vì điều này có thể gây nên đứt hoàn toàn đường thở. Trong trường hợp này, người ta sẽ cân nhắc tiến hành phẫu thuật đường thở. Nếu cột sống cổ không vững để ưỡn như trong RA (rheumatoid arthritis – viêm khớp dạng thấp), ngay sau đó cố định cột sống cổ thẳng trục là cần thiết và phải duy trì trong khi đặt NKQ để tránh tổn thương tủy sống và liệt. Chú ý, đặt NKQ có video sẽ làm giảm mức độ ưỡn cổ khi đặt ống.

Những cân nhắc đặc biệt

Trước khi đặt ống, tất cả trang bị cần thiết phải được chuẩn bị. Trang bị được yêu cầu bao gồm: găng tay, tấm chắn bảo vệ mặt, hệ thống hút, mặt nạ có túi – van nối với một nguồn oxy, NKQ có nòng, bơm tiêm 10 ml, giá đỡ cố định NKQ, bộ phận cảm biến nồng độ CO2 cuối thì thở ra – Et CO2 ( End-Tidal- CO2), ống nghe và đèn soi thanh quản cùng với lưỡi đèn hoặc bằng công nghệ sợi quang mới. Đèn soi thanh quản sợi quang cho phép nhìn thấy hướng dẫn lưỡi đèn và quan sát đút ống NKQ qua dây thanh âm. Hai kiểu lưỡi đèn sử dụng phổ biến hiện nay là lưỡi đèn thẳng Miller và lưỡi đèn cong Macintosh. Ống NKQ có thể có những đường kính trong khác nhau: 7.0, 7.5, và 8 mm. Ở người lớn, đường kính ống 8 mm nên được sử dụng nếu có thể. Kích thước khí quản được ước lượng tốt nhất bằng BMI dự đoán của bệnh nhân và không phải là BMI thực tế. Ống có thể có nhiều loại có cuff và không cuff. Ống không cuff thường cho trẻ em trái lại ống có cuff sử dụng cho những trẻ lớn hơn và người trưởng thành. Cuff không được làm phồng quá mức, vì chúng đã được thiết kế khi thể tích lớn nhất thì áp lực của cuff thấp để dự phòng thiếu máu cục bộ niêm mạc khí quản. Thở oxy trước, với 0xy 100% bằng mặt nạ không thở lại hoặc mặt nạ có túi – van là cần thiết để nâng nồng độ oxy máu; điều này có thể đạt được bằng cách thay thế tỷ lệ của nitơ và oxy trong không khí phòng. Hoàn thành việc đó bằng cách sử dụng oxy 100%, điều này cũng tăng khả năng dự trữ oxy bệnh nhân và tăng khoảng thời gian trước khi khử bão hòa tiếp theo. Tăng tổng số oxy làm giảm số lượng thông khí áp lực dương, điều này làm giảm nguy cơ hít những chất trong dạ dày.

Trước khi bất kỳ quy trình nào được bắt đầu, người ta nên xác định những mẫu đơn đồng ý phải được ký, trừ khi nó là một trường hợp cấp cứu. Nếu nó là một trường hợp cấp cứu, người ta phải đảm bảo rằng ở đây không có lệnh ngừng hồi sức hoặc lệnh không đặt ống NKQ. Cái nòng dẫn đường mềm dẻo và có thể phục hồi hình dạng được, thường được đặt vào trong ống NKQ để duy trì độ cong tự nhiên của đường thở. Đường tĩnh mạch nên được thiết lập và dấu hiệu sinh tồn bệnh nhân nên được theo dõi liên tục. Bệnh nhân ở vị trí thích hợp trước khi đặt ống là quan trọng. Đầu của bệnh nhân nên ở một mức thấp hơn xương ức. Vị trí “hít vào” có thể được hoàn thành xong bằng cách đặt một cái gối hoặc cuộn cái khăn đặt dưới vùng chẩm của bệnh nhân. Chỉnh thẳng hàng 3 trục khoang miệng, hầu, và thanh quản, điều này là lý tưởng để hiển thị rõ dây thanh âm, có thể điều chỉnh bằng cách nâng cổ hoặc ngửa đầu. Bất kỳ răng giả nào nên được loại bỏ. Một phụ tá nên thực hiện thủ thuật Sellick (tác động một lực tập trung lên sụn nhẫn), điều này có tác dụng ép chặt thực quản giữa sụn nhẫn và cột sống cổ tránh hít phải những chất trong dạ dày. Thủ thuật này làm giảm nguy cơ hít phải những chất trong dạ dày thụ động và nhìn thấy rõ được thanh môn.

ĐẶT ĐƯỜNG TRUYỀN TĨNH MẠCH VÀ NHỮNG THUỐC AN THẦN VÀ LIỆT CƠ

Những thuốc chẹn thần kinh cơ và an thần mạnh được sử dụng để nhìn thấy rõ dây thanh âm và giảm nguy cơ nôn và hít sặc. Midazolam hay fentanyl là những thuốc gây ngủ (hypnotic) điển hình được dùng để đưa vào. Những kết hợp khác bao gồm thiopental hay ketamine. Thuốc chẹn thần kinh cơ được dùng phổ biến là succinylcholine. Rocuronium là một sự thay thế khi có chống chỉ định với succinylcholine nhất là trong trường hợp tăng kali máu. Succinylcholine nên tránh dùng trong trường hợp tăng kali máu bởi vì gây khử cực tại đoạn nối thần kinh cơ. Phù, tắc nghẽn, u, chấn thương và nhiễm trùng có thể tăng khó khăn đặt ống NKQ. Những tình huống khác có thể làm đặt ống NKQ khó khăn hơn là hàm dưới nhỏ, chuyển động cổ giới hạn, phù nề lưỡi ( phù mạch, thoái hóa tinh bột – amyloidosis). Chẹn thần kinh cơ sử dụng để gây liệt bệnh nhân thở máy thì liên quan với những khiếm khuyết thần kinh và di chứng và nên tránh.

Xác định

Sau khi đặt, ống NKQ nên ở giữa khí quản, đầu ống NKQ ở trên carina 3 – 4 cm. Âm thở và độ giãn nở của 2 bên phổi nên được ghi nhận. Một đầu dò cảm ứng Et CO2 (thán đồ) cần phải kết nối với ống NKQ, và trên monitor này sẽ thay đổi màu sắc trong 6 nhịp thở đầu tiên. Thiếu sự thay đổi màu sắc chứng tỏ ống NKQ không ở trong khí quản. Ống NKQ nên được đặt lại vị trí cho đến khi monitor CO2 xác định chính xác đặt trong khí quản bằng những thay đổi màu sắc. XQ ngực là cần thiết để kiểm tra việc đặt NKQ và bảo đảm rằng ống NKQ thì không ở bên trái hoặc bên phải phế quản gốc. Sau khi đặt NKQ thành công, ống nên được cố định bằng giá cố định hoặc băng dính. Nếu râu ở mặt gây trở ngại cho cố định NKQ, đơn giản là cạo cho bệnh nhân.

Những biến chứng chính của đặt NKQ bao gồm: co thắt phế quản, hạ oxy máu, tăng thán huyết (tăng quá mức nồng độ carbon dioxide trong máu), và chết. Nôn, nhịp tim chậm, co thắt thanh quản, Pneumonia (viêm phổi thùy) và Pneumonitis (viêm phổi kẽ) cũng được nhận thấy. Một số tác giả khuyến cáo lidocaine tĩnh mạch trước đặt ống NKQ để làm giảm co thắt phế quản do đặt ống. Đặt ống NKQ và thở máy thì liên quan với tăng các trường hợp mê sảng ở ICU.

TÓM TẮT

Mục tiêu chính của đặt ống NKQ và thở máy là để cung cấp một đường thở thông thoáng cho việc cung cấp oxy và thông khí thích hợp là tiên quyết cho sự sống còn của bệnh nhân. Điều này cũng cho phép hút được những chất tiết, áp dụng PEEP, và cung cấp những thuốc khí dung. Quyết định tiến hành thủ thuật đặt NKQ xâm lấn này đòi hỏi một sự hiểu biết về bệnh học và những rối loạn sinh lý mà cần thiết phải sử dụng nó. Chất lượng của màu sắc trên monitor EtCO2 được sử dụng để xác định việc đặt ống và có độ nhạy và độ đặc hiệu gần 100% cho việc đặt ống NKQ nằm trong khí quản.

CLINICAL CASE CORRELATION

See also Case 3 (Scoring Systems and Patient Prognosis), Case 9 (Ventilator Management), Case 11 (Asthmatic Management), and Case 12 (Noninvasive Methods of Ventilatory Support).

COMPREHENSION QUESTIONS

8.1. Một người đàn ông 34 tuổi đến phòng cấp cứu sau 45 phút bị bắn vào bụng bằng một khẩu súng ngắn cỡ nòng 38. Khi bệnh nhân đến đã được báo động, tập trung về người, địa điểm và thời gian vì HA 76/50 mm Hg, mạch 140 lần/phút, tần số thở 32 lần/phút, và SpO2 ban đầu là 72% trong không khí phòng. XQ ngực chỉ ra tràn khí màng phổi 2 bên với xẹp một phần phổi. Đặt NKQ nhanh được bắt đầu với NKQ 8 mm. Đặt dẫn lưu khoang màng phổi 2 bên. Bệnh nhân bắt đầu với áp lực hỗ trợ + 10 mm Hg, PEEP 0 và FiO2 100%. Quyết định chụp XQ ngực lại và khí máu chưa được thực hiện. Điều nào sau đây là hợp lý nhất để xác định ống NKQ được đặt đúng trong khí quản?

  1. Thông khí dễ dàng bằng bóp bóng
  2. Những thay đổi màu sắc + trên monitor CO2 nối với ống NKQ
  3. Nghe bằng ống nghe ngực âm thở tốt ở 2 bên.
  4. SpO2 đạt trên 95%
  5. Lồng ngực giãn nở với mỗi nhịp thở.

8.2. Bạn được gọi để đánh giá một người đàn ông da trắng 45 tuổi xuất hiện tràn khí màng phổi sau phẫu thuật bụng. Anh ấy đã được đặt NKQ số 8 để gây mê. Anh ấy cao 157 cm và nặng 60 kg. Cung răng trước của anh ấy ở tại vị trí 32cm của ống NKQ. Khám thấy âm thở và ngực bên phải giãn nở tốt, nhưng không có âm thở bên trái và ngực trái không giãn nở. Cái gì là nguyên nhân có thể nhất cho những phát hiện này?  

  1. Ngộ độc CO
  2. Cài đặt máy thở FiO2 thấp
  3. Hội chứng suy hô hấp người trưởng thành (ARDS)
  4. Đặt NKQ vào thực quản
  5. Ống NKQ đặt vào phế quản gốc phải

ANSWERS TO QUESTIONS

8.1. B. Phương pháp thích hợp nhất để xác định ống NKQ ở trong khí quản là thấy được ống đi qua dây thanh âm hoặc ghi nhận thay đổi màu sắc trên monitor CO2 nối với ống NKQ trong khi bệnh nhân được thông khí. Ngoài ra, XQ ngực được thực hiện để xác định vị trí đặt ống. Thỉnh thoảng, soi phế quản có thể cần thiết để xác định đặt ống chính xác hoặc để hỗ trợ đặt ống NKQ. Đầu ống NKQ nên cách 3 – 4 cm trên carina. Gập đầu làm “đầu ống NKQ đi xa carina ” và có thể gây tuột ống. Ngửa đầu làm “đầu ống NKQ lại gần carina ” có thể có xu hướng luồn ống vào trong phế quản gốc phải. Những nghiệm pháp khác thường được thực hiện bao gồm đo SpO2 và nghe trường phổi; tuy nhiên những phương pháp này thì không dự đoán tốt việc đặt ống NKQ chính xác. 

8.2. E. Ống NKQ của bệnh nhân được đặt sâu, gây nên tình trạng ống luồn vào phế quản gốc phải bởi vì góc phế quản gốc phải đi xuôi hơn so với phế quản gốc trái. Góc phế quản gốc trái là 450, làm cho nó ít có khả năng bị ống luồn vào. Một lỗi phổ biến trong đặt ống là đặt vào thực quản. Đặt chính xác NKQ đòi hỏi xác định bằng mắt hoặc thông qua một monitor CO2 nối với ống NKQ. XQ ngực để bảo đảm chính xác vị trí đầu ống NKQ ở trên carina 3 – 4 cm nên được thực hiện.

CLINICAL PEARLS

► Đánh giá lâm sàng, kết hợp với kinh nghiệm y khoa, là công cụ quan trọng nhất để xác định bệnh nhân cần đặt ống NKQ.

► Chỉ định cho đặt ống NKQ và thở máy thường được chia thành suy hô hấp hạ oxy máu, giảm thông khí tăng CO2 máu, suy giảm ý thức và cần bảo vệ đường thở.

► Kế hoạch đặt ống NKQ trong một trường hợp cần kiểm soát luôn thích hợp hơn trong kiểm soát đường thở khẩn cấp.

► Thông khí có thể được theo dõi bằng thán đồ, phương pháp đo không xâm lấn áp lực riêng phần carbon dioxide trong nhịp thở ra.

► Các phương pháp đo ABG và PACO2 là cần thiết để đánh giá giảm thông khí tăng CO2 máu vì các giá trị đo oxy xung có thể vẫn gần bình thường cho đến khi không thể thông khí được xảy ra.

► Không giống như đo oxy xung để phát hiện tình trạng hạ oxy máu, máy theo dõi cạnh giường để phát hiện tăng CO2 máu thường không có sẵn.

► Chỉ định về thần kinh để đặt ống NKQ do suy giảm ý thức và tiên lượng để bảo vệ đường hô hấp có thể chiếm 20% bệnh nhân đặt nội khí quản ở đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU).

► Nghe không đáng tin cậy để xác định vị trí của ống nội khí quản.

► Bệnh nhân cần đặt ống NKQ nhanh thường xuất hiện với khó thở tăng, thở nhanh, sử dụng các cơ hô hấp phụ, và thông khí thể tích khí lưu thông thấp với nhịp thở nghịch thường.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn