» Case 7 Case 7 – Y học online

Case hồi sức

Case 7



Một người thanh niên 25 tuổi cho tạng nằm ở ICU được chẩn đoán là chết não sau khi bị chấn thương kín vùng đầu trong một tai nạn xe máy. Anh ta được đặt NKQ thở máy mode AC với tần số 16 nhịp/ phút, Vt 450 mL, Fio2 35%. Khí máu động mạch (ABG): pH 7.36, Paco2 36 mm Hg, Pao2 150 mm Hg với phân suất oxy hít vào FiO2 là 35%. Đội ghép tạng và đội phòng mổ được gọi điện. HA là 110 mm Hg tâm thu và  60 mm Hg tâm trương, nhịp tim là 110 lần/phút và đều; nhiệt độ 96°Fahren- heit (F), cân nặng 70 kg, và chiều cao 62 in. Các chỉ số điện giải: sodium (Na+) 155 mEq/L, potassium (K+) 4 mEq/L, chloride (CI-) 105 mEq/L, bicarbonate (HC03) 20 mEq/L. Nước tiểu 150 mL/h.

  •  Bước tiếp theo thích hợp nhất là gì trong khi chờ ghép tạng?
  • Cái gì là thông số quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự sống sót của tạng?

ANSWERS TO CASE 7:

Đạo đức trong chăm sóc đặc biệt

Tóm tắt: Bệnh nhân 25 tuổi này bị chết não và là một người hiến tạng. Hỗ trợ sự sống nên tiếp tục trong khi cố gắng để duy trì những chỉ số sinh lý và xét nghiệm “trong giới hạn bình thường” để duy trì sự toàn vẹn của tạng cho đến khi cung cấp tạng cho đội ngũ ghép tạng.

  • Những bước tiếp theo trong khi chờ ghép tạng: duy trì những thông số sinh lý của bệnh nhân/ người cho càng gần bình thường càng tốt.
  • Tiêu chuẩn quan trọng nhất cho sự sống sót của tạng: Thời gian là quan trọng nhất trong tình huống này. Phối hợp tất cả thủ tục giấy tờ và yêu cầu kiểm tra càng sớm càng tốt. Rút ngắn thời gian thủ tục giấy tờ sẽ góp phần tăng sự sống sót của tế bào hoặc tạng.

PHÂN TÍCH

Mục tiêu

  1. Hiểu được chăm sóc cơ bản cho những bệnh nhân người lớn chết não hiến tạng
  2. Hiểu được những thay đổi sinh lý phức tạp trong tạng người hiến tặng.

Xem xét

Người đàn ông 25 tuổi này không may bị tai nạn mô tô và đã được chẩn đoán chết não, có thể là do mất chức năng thân não toàn bộ và không thể phục hồi được. Bệnh nhân này là một ứng viên để hiến tạng hoặc mô, điều này đã được xác định dựa trên mong muốn trước đó, chẳng hạn như điều này được chỉ ra trong một di chúc y khoa hoặc một thẻ hiến tạng, và dựa trên sự thảo luận với gia đình. Các vấn đề tình cảm quan trọng liên quan với sự yêu thương của mọi người; vì vậy một phòng đặc biệt trong bệnh viện với những thành viên lành nghề hoặc một người đại diện cho người nhận tạng tổ chức nói chuyện với gia đình có thể giúp gia đình vượt qua một số khó khăn khi quyết định và tôn trọng nguyện vọng của gia đình. Tuyên bố chết não đòi hỏi phải xác định bệnh nhân đang hôn mê và không có bằng chứng của phản xạ thân não (chẳng hạn: tự thở, phản xạ đồng tử với ánh sáng, mắt chuyển động, hoặc co tay và chân khi kích thích đau). Để tạo ra những kết cục tốt nhất cho các tạng, giữ các quá trình sinh lý của bệnh nhân càng bình thường càng tốt là điều quan trọng: HA, nhịp thở, oxy, tình trạng dịch/ điện giải. Một đội ngũ tiếp cận phối hợp thì có thể là tối ưu để giúp đỡ gia đình vượt qua cảm xúc đau buồn, làm việc với đội ngũ y khoa, và thông tin với đội ghép tạng.

APPROACH TO:

CÁC VẤN ĐỀ CHUNG CỦA NGƯỜI HIẾN MÔ TẠNG

Trong hoàn cảnh này những quyết định chung cho chăm sóc đặc biệt đã được áp dụng. Hướng dẫn chung bao gồm tối ưu hóa chức năng tim mạch và phổi, cân bằng dịch và điện giải, xác định và điều trị nhiễm trùng, và thêm thuốc hormones. Chỉ số nguy cơ người cho chỉ ra những tiêu chuẩn “ổn định” nào là có liên quan với biến tiêu chuẩn. Những tạng của người cho thì bị ảnh hưởng bởi hệ thống sinh lý thông thường (VD, cung cấp oxy, hệ thống điện giải máu, những cytokine khu vực và hệ thống). Những thông số chung cho chăm sóc tối ưu được giải quyết cũng như các yếu tố cá nhân có thể ảnh hưởng tạng ghép (see Table 7-1 ).

THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ

Tối thiểu hóa thời gian giữa việc nhận và ghép tạng của người cho. Những trung tâm đặc biệt trang trọng được dành để tuân theo những hướng dẫn thực hành tốt nhất đã có tác động phần lớn trong việc thúc đẩy điều trị thích hợp. Ghép những tạng đặc biệt khuyến cáo đường máu tăng ở mức vừa phải. Giảm lượng đường tế bào thần kinh khi điều trị insulin không còn là mối quan tâm ở người cho chết não. Ngăn chặn phản ứng miễn dịch gây ra bởi tăng đường máu có thể hữu ích cho người nhận.

Điều trị bệnh đông máu và truyền máu

Mức hemoglobin và hematocrit tối ưu những bệnh nhân hiến tạng đã được phác họa trong Table 7-1. Yêu cầu về tiêu thụ oxy bây giờ đã được giải phóng khỏi sự xem xét phải bảo vệ não, một cơ quan tiêu thụ oxy chính. Giảm cung lượng tim làm giảm cung cấp oxy cho các tạng ghép. Vấn đề quan tâm đặc biệt là tải trọng các yếu tố viêm trung gian, tổn thương phổi cấp, và có thể là truyền virus cho người nhận. Ảnh hưởng tiềm ẩn của tình trạng miễn dịch bị suy giảm do truyền máu là không rõ. Truyền máu nhiều lần thường cải thiện thành công ghép tạng. Xuất huyết là không mong muốn, nhưng chống đông “nội tại” có thể hữu ích cho tưới máu tạng. Truyền những yếu tố đông máu có trong huyết tương tươi đông lạnh và tiểu cầu đậm đặc có liên quan với TRALI – tổn thương phổi cấp tính liên quan với truyền máu ở những bệnh nhân bệnh y khoa nghiêm trọng, điều này không thể phân biệt với ARDS. Yếu tố VIIa tái tổ hợp là một vấn đề quan tâm đặc biệt. Mặc dù thường sử dụng cho chỉ định ngoài lề trong chảy máu do chấn thương và chảy máu do phẫu thuật thần kinh, giá trị của yếu tố này không được đánh giá ở người hiến tạng. Truyền tiểu cầu cũng có thể thúc đẩy tổn thương phổi và giải phóng các chất gây viêm. Lợi ích hoặc tác hại tiềm ẩn của truyền bổ sung tiểu cầu khi thuốc kháng tiểu cầu đã được sử dụng gần đây để điều trị bệnh giảm tiểu cầu vẫn không được biết rõ.

Nhiệt độ cơ thể và Hormone thay thế

Sau khi não chết, hầu hết người hiến tạng xuất hiện hạ thân nhiệt từ nhẹ đến trung bình, điều này có thể góp phần làm giảm chuyển hóa trong các tạng người hiến. Mặt có hại của ảnh hưởng hạ thân nhiệt bao gồm: tăng tiểu nhiều, thay đổi trong bệnh lý đông máu, và rối loạn nhịp tim. Tiểu nhiều có thể đáp ứng với vasopressin và dịch truyền.

Suy thượng thận ban đầu có thể là hậu quả từ chết não hoặc những tổn thương hoặc bệnh từ trước ở người hiến tạng. Corticosteroids ở trên “liều stress” được sử dụng phổ biến để hỗ trợ ghép phổi. Bổ sung mineralocorticoids có thể điều chỉnh hạ natri máu người hiến tạng, nhưng đây là cân bằng với tỷ lệ mắc phải bệnh đái tháo nhạt cao. Truyền liều corticosteroids hoặc tiêm tĩnh mạch có thể cần thiết nếu chăm sóc người hiến tạng kéo dài vượt quá 8 đến 12 giờ. Nhiều tạng có thể phục hồi lại khi sử dụng phối hợp các hormones khác nhau. Điều trị Corticosteroid là một ngoại lệ và nếu nó không sử dụng để hỗ trợ phổi, nó vẫn được dùng trong trường hợp stress, đặc biệt là khi hạ HA dai dẳng mặc dù truyền dịch đầy đủ và điều trị thuốc vận mạch. Điều trị hormone tuyến giáp thì được chấp nhận rộng rãi trong việc áp dụng thường quy cũng như là một thuốc “cứu cánh” để điều trị tụt HA kháng với thuốc cường tim hoặc vận mạch. Liều khuyến cáo của triiodothyronine (T3) is 2 to 3 mg/h tiêm TM.

Đa niệu, điều này diễn ra phổ biến sau chết não, đặt các tạng vào nguy cơ bởi vì mất dịch, hạ HA và giảm tưới máu các tạng xảy ra sau đó. Những nguyên nhân đa niệu bao gồm lợi tiểu sinh lý, tiểu quá mức khi điều trị tăng áp lực nội sọ, lợi tiểu thẩm thấu do dùng manitol quá mức, tăng glucose máu, hoặc đái tháo nhạt (DI). Đa niệu từ những nguyên nhân khác ngoài DI thường không tăng natri máu đáng kể. Tăng natri máu sau khi ghép tạng liên quan với giảm chức năng gan. Mức natri máu > 155 mEq/L được chấp nhận là tối đa. Đặt đường truyền tĩnh mạch với dung dịch muối đẳng trương hoặc nước muối sinh lý nhược trương thì được khuyến cáo khi lượng nước tiểu trên 150 đến 200 mL/h. Tăng đường máu đáng kể có thể tiến triển nếu sử dụng dung dịch và dextrose quá mức, và nên được điều trị. Dung dịch vasopressin có thể được truyền tĩnh mạch lặp lại với liều bolus (5 – 10 UI) hoặc được chuẩn độ khi tiêm để điều trị đa niệu. Desmopressin (DDAVP) thì cũng tác dụng khi bolus tĩnh mạch (0.5-2 micrograms) lặp lại khi cần thiết để đạt được lượng nước tiểu mong muốn.

Dinh dưỡng, tái tưới máu, và điều kiện tiên quyết

Những dưỡng chất có thể dễ dàng lắng đọng thành glycogen trong gan, tăng hữu hiệu những acid béo và glutamine có lợi cho tim, cung cấp acid béo omega-3 hoặc amino acids có lợi để bảo vệ thận. Truyền coenzyme CoQ10 có một số hứa hẹn như là một chất bảo vệ tim. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng CoQ10 làm giảm nhẹ HA và có tiềm năng bảo vệ tim chống lại sự giảm tổng hợp enzyme này ở tim, điều này có thể bị cạn kiệt do sử dụng Statin.

Tổn thương tạng ghép xảy ra khi có sự tổng hợp và giải phóng các gốc tự do và những chất có hại khác tại thời điểm ghép tạng, làm ấm lại, và tái tưới máu. Ngoài ra, tổn thương được quan sát thấy khi HA hạ đáng kể sau hồi sức và cải thiện tưới máu mô tạng ghép. Tuy nhiên, một giai đoạn hạ HA có kiểm soát có thể là điều kiện tiên quyết một số tạng (nhất là gan) trước khi cấy ghép mô, bằng cách tăng khả năng chịu đựng tổn thương tái tưới máu sau ghép tạng. Sử dụng Dopamine thì không có lợi trong dự phòng tổn thương như vậy.

Kết luận

Chăm sóc người hiến tạng thường là một công việc phức tạp. Cung cấp những tạng có chức năng tốt nhất để chờ người nhận đòi hỏi chú trọng cẩn thận đến đa biến số. Dữ liệu dựa trên bằng chứng ít ỏi là một thách thức trong chăm sóc đặc biệt, nhận tạng, và những đội ngũ ghép tạng. Lệnh “không hồi sức” (DNR) là vấn đề đạo đức xảy ra thường xuyên ở ICU. Những lệnh này nên được hiển thị rõ ràng trên biểu đồ của bệnh nhân. Nếu như những lệnh không xuất hiện, bệnh nhân có thể được hỏi về nguyện vọng của họ về hồi sức sau ngừng tim hoặc rối loạn nhịp đe dọa sự sống. Giống với nhiều quyết định y khoa khác, quyết định có hoặc không hồi sức một bệnh nhân, người bị ngừng tim phổi cần phải cân nhắc cẩn thận, cân bằng giữa lợi ích lâm sàng tiềm tàng với can thiệp thích hợp trên bệnh nhân và kết quả của nó. Quyết định từ bỏ hồi sức tim thì thường khó khăn bởi những những bất đồng thật sự hoặc nhận thức trong những cân nhắc này.

KHI NÀO NÊN TIẾN HÀNH CPR?

Hồi sinh tim phổi (CPR) và hỗ trợ sự sống tim phổi nâng cao (ACLS) là một nhóm quy trình y khoa đặc hiệu được chỉ định để thiết lập tuần hoàn và hô hấp của bệnh nhân. CPR và ACLS được chỉ định để duy trì tưới máu những tạng sống khi cố gắng phục hồi lại tự thở và nhịp tim bởi khử rung tim tại giường. Nếu bệnh nhân ngừng thở hoặc ngừng tim xảy ra tại bệnh viện, tiêu chuẩn chăm sóc là thực hiện CPR khi không có y lệnh thầy thuốc ngừng nó. Những người hỗ trợ phản ứng với ngừng tim tại hiện trường được yêu cầu tiến hành CPR. Các nhân viên y tế cứu hộ với ngừng tim trong lĩnh vực này là cần thiết để tiến hành CPR.

Những bệnh viện có những chính sách, mô tả những trường hợp có thể ngừng CPR. Một số trường hợp phổ biến xác nhận không CPR là

  • Khi CPR được đánh giá là không mang lại ích lợi về mặt y khoa
  • Khi bệnh nhân có thể tạo ra những quyết định rõ ràng khác nhau chỉ ra rằng ông ấy/ cô ấy không muốn CPR, với những giấp tờ được ký xác định những mong muốn rõ ràng được viết bằng ngôn ngữ y khoa hơn là ngôn ngữ pháp lý.
  • Khi bệnh nhân biểu hiện suy giảm khả năng quyết định, một người thay thế có thể quyết định cho bệnh nhân. Người thay thế có thể chỉ ra rõ ràng là bệnh nhân không muốn CPR.

CPR là vô ích khi nó không đem lại lợi ích lâm sàng cho bệnh nhân; trong những trường hợp này, các thầy thuốc được bảo đảm về mặt đạo đức trong dừng hồi sức. Rõ ràng, nó là quan trọng để xác định những gì là “được lợi ích”. Phân biệt giữa việc cung cấp những ảnh hưởng đo được đơn thuần (VD nồng độ kali huyết thanh bình thường) và cung cấp những lợi ích đáng kể cho sức khỏe là hữu ích trong việc cân nhắc này.

Một cách tiếp cận để xác định lợi ích là kiểm tra xác suất một can thiệp có dẫn đến một kết quả như mong muốn. CPR được đánh giá có triển vọng trong những hoàn cảnh lâm sàng phong phú khác nhau. Biết được xác suất thành công của CPR có thể được sử dụng để quyết định nó là vô ích hay không.

CPR cũng có thể thiếu hiệu quả khi chất lượng sự sống bệnh nhân là nghèo nàn, nghĩa là không có sự cải thiện với hồi sức. Xem xét “chất lượng sự sống” dẫn đến những báo cáo có hại cho các bênh nhân bệnh mạn tính hoặc không có khả năng cứu chữa. Ở đây có bằng chứng thực tế là những bệnh nhân với các tình trạng mạn tính thường đánh giá chất lượng cuộc sống của họ cao hơn người khỏe mạnh. Có thể có một sự đồng thuận rằng những bệnh nhân trong tình trạng hôn mê dài ngày có một chất lượng cuộc sống mà ít người muốn chấp nhận. Vì vậy, CPR thường được xem xét là “vô ích” cho các bệnh nhân khi ở tình trạng sống thực vật dai dẳng.

Ở đây không có nghĩa vụ cung cấp CPR khi nó được xem là vô ích về mặt y khoa. Tuy nhiên, giữ nguyên tắc quyền tự quyết, bệnh nhân và/hoặc gia đình của họ nên tiếp tục có một vai trò quyết định về lệnh ngừng hồi sức. Trong nhiều trường hợp, bệnh nhân/ gia đình, nhờ được cung cấp một sự hiểu biết chu đáo  nhưng thẳng thắn về tình trạng lâm sàng, sẽ đồng ý với lệnh ngừng hồi sức. Trong những trường hợp như vậy một lệnh ngừng hồi sức có thể được viết tại thời điểm đó. Mỗi bệnh viện nên có một quy trình đặc hiệu để viết một lệnh ngừng hồi sức có giá trị pháp lý. Trong tất cả các trường hợp, lệnh phải được viết hoặc cùng được ký bởi thầy thuốc có mặt. Một quyết định từ chối CPR cũng có thể xuất phát từ một mong muốn bày tỏ của bệnh nhân là không thực hiện CPR. Nếu bệnh nhân hiểu tình trạng y khoa hiện tại và sở hữu khả năng ra được quyết định hiện tại, như vậy yêu ngừng hồi sức nên được tôn trọng.

Các nhà đạo đức học và các thầy thuốc đã được phân chia nhiều cách để tiến hành nếu các thành viên của gia đình không đồng ý. Một lệnh ngừng hồi sức chỉ có thể được viết với sự đồng ý của cả bệnh nhân/ gia đình. Mọi nỗ lực hợp lý nên thực hiện để giải thích chi tiết tất cả tình trạng y khoa với các bên liên quan, điều này thường dẫn đến giải pháp cho vấn đề mâu thuẫn. Trong những trường hợp khó khăn, tư vấn đạo đức có thể chứng minh là hiệu quả. Tuy nhiên, CPR nên được tiến hành chung cho mỗi bệnh nhân, thậm chí nếu được xem là vô ích.  Cái gọi là “mã chậm”, ở nơi những cố gắng hồi sức nửa vời được thực hiện, là không được biện minh về mặt đạo đức. Chẳng hạn những hoạt động làm tổn hại quyền lợi của bệnh nhân và vi phạm sự tin cậy thầy thuốc – bệnh nhân. Trong hầu hết các trường hợp, quyết định bắt đầu hoặc từ chối CPR xảy ra tại thời điểm khi bệnh nhân không thể tham gia thực hiện quyết định, và ý muốn của họ không rõ. Có 2 cách tiếp cận phổ biến cho tình thế thiến thoái lưỡng nan này: những di chúc y khoa và người thay thế thực hiện quyết định  

Di chúc y khoa

Di chúc y khoa là một tài liệu chi tiết những cách thức quyết định bệnh nhân muốn thực hiện nếu ông ấy/ bà ấy không thể tham dự tại thời điểm khi quyết định quan trọng phải được thực hiện. Tài liệu này có thể liệt kê hoặc chỉ ra những quyết định đặc biệt (VD tiếp tục sống); mặt khác nó có thể chỉ định một người đặc biệt thực hiện quyết định chăm sóc về mặt sức khỏe cho họ (VD người ủy quyền có khả năng chăm sóc sức khỏe lâu dài và người thay thế). Có một số tranh luận tiếp tục sống như thế nào nên được giải thích rõ. Những ý muốn thể hiện mong muốn được sống hầu hết là thuyết phục khi họ phản ánh từ đầu, quan điểm ổn định nhất quán của bệnh nhân. Điều này thường có thể quyết định bằng những cuộc thảo luận với những thành viên gia đình, những người bạn thân, hoặc những người dịch vụ chăm sóc sức khỏe, người mà có thời gian dài gắn bó với bệnh nhân.

Người thay thế thực hiện quyết định

Khi không có một tài liệu ghi chép, luật pháp chấp nhận một hệ thống phân cấp mối quan hệ trong gia đình trong việc quyết định thành viên gia đình nào là “người phát ngôn” chính thức. See Table 7-2.

KẾT LUẬN

Điều trị y khoa cơ bản không nên từ chối, nhưng quyết định y khoa và những tập quán đạo đức nên được thực hiện. Khi đối diện với những quyết định về những can thiệp CPR, một đội ngũ chăm sóc sức khỏe nên thể hiện sự tôn trọng với quyền tự quyết mỗi người và mang lại sự ủng hộ. Lệnh ngừng hồi sức không nên chuyển đổi thành lệnh không điều trị hoặc lệnh không cứu mà không có tài liệu đầy đủ từ một nguồn thích hợp. Cấp cứu không nên thay đổi những tiêu chuẩn chăm sóc y khoa, nhưng những cách chăm sóc tốt nhất nên được thực hiện trong những hoàn cảnh, với sự đồng thuận của bệnh nhân. Tiêu chuẩn chăm sóc là như nhau trong khi ốm và khỏe mạnh, bao gồm cấp cứu y khoa/ phẫu thuật.

COMPREHENSION QUESTIONS

7.1. Mr H là một người đàn ông 24 tuổi nằm ở một cơ sở chăm sóc chuyên nghiệp, ở đây anh ấy đang trải qua phục hồi chức năng do tổn thương cột sống cổ. Tổn thương đã làm cho anh ấy liệt tứ chi. Anh ấy có khả năng nhận thức bình thường và không có vấn đề về hô hấp. Anh ấy được nhập viện vào phòng của bạn để điều trị viêm phổi. Bác sỹ nội trú đề nghị dùng kháng sinh, vật lý trị liệu ngực, và bù dịch. Bác sỹ nội trú nói rằng “anh ấy nên có một lệnh ngừng hồi sức, căn cứ vào sự điều trị y khoa là vô ích”. Những hoàn cảnh lâm sàng nào sau đây can thiệp CPR là có lợi nhất?

  1. Bệnh nhân ICU với đột quỵ cấp tính
  2. Bệnh nhân ung thư di căn
  3. Bệnh nhân shock nhiễm khuẩn
  4. Bệnh nhân suy thận
  5. Bệnh nhân viêm phổi nặng

7.2. Một người phụ nữ 82 tuổi bị ung thư đại tràng và di căn gan đã nhập viện để hóa trị. Bởi vì tiên lượng của bà ấy là xấu, bà ấy đã thỉnh cầu một lệnh ngừng hồi sức, nhưng bà ấy yêu cầu “ một lệnh đầy đủ”. Điều trị nào là thích hợp nhất cho bệnh nhân này?

  1. Giải thích cho bệnh nhân rằng bà ấy ký vào lệnh ngừng hồi sức nghĩa là bệnh nhân sẽ cần đặt trong một sự chăm sóc đặc biệt.
  2. Nhấn mạnh cho bệnh nhân với sự đồng cảm rằng một quyết định nên thực hiện trong một vài giờ tiếp theo trong trường hợp ngừng tim xảy ra.
  3. Chia sẻ quyết định này với các thành viên gia đình thì ít có tác dụng vì rằng cảm giác tội lỗi thường là một yếu tố phức tạp.
  4.  Thảo luận với bệnh nhân rằng ngừng hồi sức không có nghĩa là bệnh nhân sẽ nhận sự chăm sóc tối thiểu.

ANSWERS TO QUESTIONS

7.1. D. Suy thận có thể điều trị bằng lọc máu cả trường hợp cấp tính và mạn tính. Những lựa chọn trả lời khác thì liên quan với việc điều trị y khoa vô ích là cao hơn, nghĩa là một can thiệp chẳng hạn như CPR có thể mang lại thay đổi lợi ích không đáng kể cho bệnh nhân. Những can thiệp có thể xem là vô ích nếu xác suất thành công (sống sót để rời viện) là <1% và / hoặc chất lượng cuộc sống là dưới mức tối thiểu có thể chấp nhận được ở bệnh nhân. Trong hoàn cảnh câu hỏi này, xác suất sống sót của bệnh nhân sau CPR là dưới mức trung bình, dựa trên việc liệt tứ chi của anh ấy và viêm phổi nhẹ. Thật ra, tỷ lệ sống sót trong những trường hợp viêm phổi nặng và suy hô hấp < 1%. Chất lượng cuộc sống của anh ấy không phải là không có giá trị. Khi anh ấy tỉnh táo và nhận thức đầy đủ, Mr H có thể được hỏi về quan điểm của anh ấy đối với chất lượng cuộc sống của anh ấy. Một cuộc thảo luận về những tình huống có thể khi anh ấy ngừng tim và sẽ cần CPR là quan trọng. Sau đó Mr H có thể nói cho bạn nếu anh ấy thích CPR hoặc không cần làm trong sự kiện ngừng tim. Không phán xét về việc CPR có thể có lợi hoặc vô ích, dựa trên tình trạng của Mr H hiện tại có thể đạt được mà không cần một cuộc thảo luận. Quyết định về hồi sức chỉ nên thực hiện sau khi bàn bạc với bệnh nhân và những thành viên gia đình về tình trạng của anh ấy và đạt được một quyết định thống nhất.

7.2. D. Bệnh nhân này thì già và đã được chẩn đoán là ung thư di căn. Sống sót ngoại viện sẽ không có hy vọng khi bệnh nhân này yêu cầu CPR. Vì vậy CPR cho Ms W có thể được mô tả như là một sự cố gắng “vô ích”. Bệnh nhân không đáp ứng tiêu chuẩn khác về sự vô ích của điều trị. Quan trọng là bà ấy tự nói ra. Một lệnh ngừng hồi sức không nên được viết thậm chí nếu CPR sẽ được đánh giá là vô ích trừ khi có sự đồng ý của bệnh nhân hoặc gia đình. Những bệnh nhân cần có thời gian để hiểu được tính nghiêm trọng trong chẩn đoán của họ. Định kỳ nhắc vấn đề CPR cho họ và gia đình nên được tiếp tục. Đây là việc làm tốt nhất trong ngữ cảnh những quyết định y khoa khác xảy ra khi chăm sóc bệnh nhân. Nhấn mạnh rằng một lệnh ngừng hồi sức không có nghĩa là bệnh nhân sẽ bị bỏ rơi hoặc nhận được một tiêu chuẩn chăm sóc thấp hơn.

CLINICAL PEARLS

► Một cách tiếp cận phối hợp với bệnh nhân hiến tạng và gia đình là rất quan trọng, để giải quyết nhu cầu tinh thần và cảm xúc, tối ưu hóa các thông số sinh lý, và làm việc cùng với đội ngũ ghép tạng.

► Trong khi có giới hạn dữ liệu hướng dẫn trong lĩnh vực này, quan điểm chuyên gia khuyến cáo duy trì hoặc phục hồi các thông số sinh lý và xét nghiệm bình thường.

► Mất ổn định tim mạch thường xảy ra trong quá trình tiến triển của sự chết não do tăng vọt catecholamine, sản xuất cytokine và thay đổi mạch máu thần kinh.

► Các can thiệp chăm sóc chuyên sâu tích cực có thể điều chỉnh sự bất ổn tim mạch và đảo ngược hoặc bảo tồn các chức năng cơ quan bình thường, cho phép tiến hành ghép tạng.

► Cần nghiên cứu thêm để xác định mức độ biến đổi sinh lý được chấp nhận ở những người hiến tạng.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn