» Case 10 Case 10 – Y học online

Case hồi sức

Case 10



Một người phụ nữ 27 tuổi bệnh xơ nang phổi mới mắc thêm viêm phổi cần đặt ống NKQ. Ngày thứ 3 ở ICU, độ bão hòa oxy là 93% với FiO2 30% thở máy và điều chỉnh Mode thở (PSV) hỗ trợ áp lực 10 cmH2O. Cô ấy có tần số nhịp tự thở trung bình là 14 nhịp/ phút và áp lực dương cuối thì thở ra (PEEP) 2,5 cmH2O. Các thông số cai máy (đo khi bệnh nhân nỗ lực tự thở) chỉ ra rằng cô ấy khởi đầu với thể tích khí lưu thông trung bình 400 mL và áp lực hít vào âm tính -35 cmH2O. Khí máu động mạch chỉ ra kết quả pH 7.39, PACO2 37 mm Hg, và PAO2 of 100 mm Hg. Cô ấy không sốt trong 48 giờ qua và số lượng BC của cô ấy hiện tại trong giới hạn bình thường. Khám thực thể, cô ấy không có suy hô hấp cấp và trả lời các câu hỏi bằng cách gật đầu hoặc viết trên một tấm giấy. Nhiệt độ cô ấy là 36.9°C (98.4°F), HA 132/66 mm Hg, nhịp tim 76 lần/phút, tần số thở 14 lần/phút. Đặt ống nghe tại hai phế trường nghe thấy chuyển động của không khí từ đầu đến cuối tốt(Phổi thông khí rõ). Chụp XQ ngực kiểm tra thì ổ thâm nhiễm ở phổi bên trái trên phim XQ lúc nhập viện đã hết.

ANSWERS TO CASE 10:

Respiratory Weaning

Tóm tắt: Người phụ nữ 27 tuổi này có sự cải thiện rõ rệt tình trạng viêm phổi và suy hô hấp. Tất cả các thông số cai máy chỉ rõ sự thành công của rút ống NKQ. Thở máy thì không cần thiết kéo dài hơn và nên kết thúc. Sau khi hướng dẫn thành công thử nghiệm tự thở, bệnh nhân nên được giải phóng khỏi máy thở.

PHÂN TÍCH

Mục tiêu

  1. Hiểu được các thông số lâm sàng và thông số mục tiêu mà dự báo được sự thành công của giải phóng máy thở
  2. Hiểu được các dự báo rút ống thất bại
  3. Hiểu được các tiếp cận hợp lý để cai máy.

Xem xét

Người phụ nữ 27 tuổi này có bệnh xơ nang phổi đòi hỏi đặt ống do suy hô hấp và viêm phổi. Cô ấy đã được điều trị trong 2 ngày ở ICU. Bệnh nhân nhìn chung thì tỉnh táo và đáp ứng. Các thông số cai máy thì thuận lợi, với PaO2 60 hoặc lớn hơn, FiO2 <60%, và PEEP <5 mm H2O. Khi bệnh nhân thở máy đạt những tiêu chuẩn này, là an toàn để tiến hành các thử nghiệm tự thở, nếu các thử nghiệm này thành công, sau đó bước kế tiếp là rút ống và giải phóng khỏi máy thở. Thông khí áp lực hỗ trợ (PSV) hoặc áp lực đường thở dương liên tục (CPAP) sẽ là cách tốt nhất để cai máy bệnh nhân này.

APPROACH TO:

Cai máy thở

GIỚI THIỆU

Cai máy hoặc giải phóng khỏi thở máy xâm nhập hoặc không xâm nhập là quy trình giải phóng bệnh nhân khỏi thở máy áp lực dương (xem case 11 thông tin rõ hơn thông khí không xâm nhập). Bởi vì tình trạng của bệnh và tử vong đáng kể liên quan với thở máy kéo dài, có một sự thừa nhận chung là tất cả những bệnh nhân thở máy tại ICU nên được đánh giá cơ bản hằng ngày để xem họ sẵn sàng để cai máy. Sự đánh giá này nên bao gồm việc ngừng thuốc an thần và đánh giá lại sự cần thiết của nó. Cai máy có thể được bắt đầu sau khi hình thức đánh giá đầu tiên tình trạng hô hấp của bệnh nhân chỉ ra rằng cai máy có thể thành công. Gần 50% bệnh nhân tự rút ống ngoài dự kiến trong quy trình cai máy không cần đặt ống lại. Điều quan trọng là nhận thức rằng tỷ lệ cai máy thất bại và các yếu tố dự báo những thất bại như vậy.

TIẾP CẬN CAI MÁY THỞ

Giải phóng khỏi thở máy là yếu tố trọng tâm trong chăm sóc bệnh nhân bệnh nghiêm trọng. Để bắt đầu cai máy một bệnh nhân thở máy, người ta phải bắt đầu với bệnh nhân, người mà sẵn sàng với quy trình và có khả năng thành công tốt (Table 10-1).

Bệnh cơ bản nên được điều trị khi sự dai dẳng của nó có thể góp phần vào việc yêu cầu tiếp tục thở máy. Cai máy thành công phụ thuộc vào nhiều biến số bao gồm tình trạng thần kinh đầy đủ, sức mạnh cơ bắp cần thiết để duy trì tự thở, và huyết động ổn định. Giá trị khí máu động mạch như thế nào có thể chấp nhận được? Giá trị điện giải bình thường bao gồm Mg+, K, Ca2+, và PO4 như thế nào? Dinh dưỡng đầy đủ phải được duy trì, nhưng cho ăn quá mức nên tránh, nhất là với carbohydrates; tăng chuyển hóa sinh một lượng nhiều CO2  và đòi hỏi phải cần tăng thông khí phút (Ve). Các bữa ăn giàu chất béo được khuyến cáo, vì chất béo tạo ra năng lượng nhiều hơn so với carbohydrates (8 kcal mỗi gram chất béo vs 4 kcal mỗi gram carbohydrates) với sản phẩm CO2 ít hơn. Một số mục tiêu cơ bản cai máy nên được thực hiện: PaO2 = 60 mmhg hoặc hơn với FiO2 <60% và PEEP <5 cm H2O. Khi bệnh nhân thở máy đạt đến những tiêu chuẩn này, nó bảo đảm cho việc tiến tới thử nghiệm tự thở và nếu thành công, sau đó rút ống và giải phóng khỏi thở máy.

CÁC DỰ BÁO CAI MÁY THỞ

Cai máy là sự giảm dần dần số lượng hỗ trợ được cung cấp bởi máy thở. Thuật ngữ cai máy thì thường sử dụng để mô tả sự chuyển từ đặt ống và hỗ trợ bằng máy toàn bộ sang nhịp tự thở của bệnh nhân với một đường thở được bảo vệ. Các yếu tố dự báo cai máy hoạt động như những hướng dẫn để xác định những bệnh nhân đó có đủ điều kiện thực hiện những nghiệm pháp tự thở và giải phóng khỏi máy thở với rút ống thành công. Những dự báo này thì dựa trên các phương pháp đo công của hô hấp, điều này giúp xác định hệ thống hô hấp của bệnh nhân có thể điều chỉnh để tự thở mà không cần sự hỗ trợ.

Một áp lực hít vào âm tính (Negative Inspiratory Force – NIF) > -25 cmH20 là dự báo sự thành công của cai thở máy. Điều này xác nhận sức mạnh cơ hô hấp của bệnh nhân là thích hợp và hệ thống hô hấp của chính bệnh nhân được điều hòa để thở mà không có hỗ trợ của máy thở. Những dấu hiệu sinh tồn ổn định với hình ảnh lâm sàng cải thiện trong quy trình cai máy là tiêu chuẩn. Những dấu hiệu sinh tồn ổn định có thể sử dụng để dự báo sự ổn định khí máu động mạch (ABG) làm giảm sự cần thiết cho việc lặp lại phân tích khí máu động mạch. Những nghiên cứu ABG là tốn kém, đau đớn, và không phải là không có các biến chứng có thể xảy ra, bao gồm tắc nghẽn động mạch ngoại vi hoặc đứt động mạch. Đạt được thông khí phút khi tự nhiên < 10 l/phút (duy trì bão hòa oxy mà không cần tốn nhiều công hô hấp) là một dự báo tuyệt vời cho sự thành công để giải phóng khỏi thở máy.

CÁC KỸ THUẬT CAI MÁY

Nghiệm pháp tự thở thành công đã trở thành tiêu chuẩn vàng cho cai máy. Mỗi bệnh nhân đặt ống NKQ thở máy nên được đánh giá hằng ngày với nghiệm pháp của một số hình thức tự thở. Một đợt nghỉ an thần cũng nên được thực hiện; nếu an thần vẫn còn được yêu cầu, nó có thể bắt đầu lại bằng nửa liều trước đó. Bệnh nhân nên cho liều an thần tối thiểu để tránh suy giảm chức năng hô hấp. Thử nghiệm cai máy tự nhiên có thể được thực hiện có hoặc không có sự hỗ trợ của máy thở. Những thử nghiệm cai máy với sự hỗ trợ của máy thở tăng độ an toàn của quy trình từ đó các thông số hô hấp được theo dõi chính xác hơn và rối loạn của bệnh nhân có thể được chẩn đoán sớm hơn. Cái gọi là nghiệm pháp ống chữ T truyền thống chỉ cung cấp FiO2 % qua ống plastic mà không cần sự trợ giúp của máy thở cung cấp một sự đánh giá thực chất nhịp thở của bệnh nhân mà không có sự trợ giúp của máy thở hoặc kháng trở của van cảm biến của máy thở. Theo đánh giá của các cơ quan nghiên cứu hô hấp chỉ ra rằng SIMV có hoặc không có hỗ trợ PS (áp lực hỗ trợ) là phương pháp phổ biến nhất cho cai máy. Điều này đã được theo dõi chặt chẽ bằng thử nghiệm ống chữ T và bằng thử nghiệm cai máy PS. Sử dụng chỉ số thở nhanh nông RR/Vt <105 được thực hiện bởi Yang and Tobin có giá trị dự báo tuyệt vời sự thất bại rút ống. Các thông số cai máy khác nhau là những yếu tố dự đoán tốt hơn trong các bệnh cụ thể.

Nghiệm pháp ống chữ T

Nghiệm pháp ống chữ T được tiến hành ở một bệnh nhân tự thở thông qua một ống NKQ kết nối với một nguồn FiO2 (do ống chữ T) với đoạn cuối ống FiO2 hở mở ra không khí xung quanh. Phương pháp này lâu đời nhất và vẫn là phương pháp hiệu quả nhất trong các kỹ thuật cai máy thở. Tăng liên tục số lượng thời gian bệnh nhân sử dụng ống chữ T sẽ nâng cao triển vọng giải phóng hoàn toàn bệnh nhân khỏi thở máy. Một nghiệm pháp tự thở đơn độc hàng ngày có hiệu quả và tác dụng như các thử nghiêm ngắn và ít tốn nhiều công sức. Nếu cần thiết, PEEP có thể luôn được thêm vào hệ thống bằng một van thở ra hoặc có thể thực hiện tốt hơn với bệnh nhân tự thở trên máy thở với mức PEEP mong muốn và cài đặt CPAP 0 cmH2O. Phương pháp này thì không cần thiết nếu bệnh nhân thở PEEP < 5 cmH2O. Nguồn FiO2 nên được làm ẩm, tạo ra một lớp sương mù ở đoạn cuối hở của ống chữ T. Nếu lớp khí dung sương mờ này biến mất hoàn toàn trong thì hít vào, dòng khí hít vào của bệnh nhân vượt qua dòng FiO2 hít vào và hít vào 21% không khí phòng qua đoạn cuối ống hở. Tình trạng này gây ra FiO2 thực tế thấp hơn so với FiO2 cài đặt ảnh hưởng giá trị khí máu động mạch bởi vì giảm FiO2 phản ánh mức PaO2 thấp hơn (Table 10-2).

Thông khí không xâm nhập

Thông khí không xâm nhập (NIV) là một công cụ hữu ích ở những bệnh nhân khó khăn trong cai máy. Nó tránh được các biến chứng của đặt ống NKQ và an thần và làm giảm tổng thời gian thở máy xâm nhập. Mục tiêu của NIV trong cai máy có thể phân chia làm 2 phần: dự phòng rút ống thất bại, và cung cấp một liệu pháp cứu nguy suy hô hấp sau rút ống NKQ. NIV cho phép rút ống sớm ở các bệnh nhân không có tiêu chuẩn rút ống.

Thông khí áp lực hỗ trợ cai máy

Thông khí áp lực hỗ trợ (PSV) cho phép bệnh nhân xác định được độ sâu, kéo dài, dòng, và tần số nhịp thở thoải mái nhất. Nó được sử dụng như là một công cụ cai máy bằng cách giảm dần dần áp lực hỗ trợ 2 đến 4 cmH2O cho đến khi bệnh nhân dung nạp thành công các mức giảm này. Điều này dẫn đến việc giảm dần thông khí hỗ trợ liên tục trong nhiều giờ hoặc nhiều ngày. PSV thì ưu việt hơn SIMV trong giảm thời gian thở máy ở những bệnh nhân cai máy khó khăn. Cai máy PSV so sánh với cai máy bằng ống chữ T cho thấy cai máy bằng ống chữ T là ưu việt. Tuy nhiên, một thử nghiệm tiến cứu nhỏ gần đây đã chứng minh rằng cai máy PSV thì ưu việt hơn cai máy ống chữ T ở các bệnh nhân bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD).

Cai máy với thể tích ngắt quãng bắt buộc

SIMV là một phương thức cai máy kém (trừ khi được kết hợp với PS), và không nên sử dụng độc lập như là một công cụ để cai máy. Cai máy bằng SIMV có PS liên quan đến việc giảm dần tần số thở theo các bước 1 đến 3 nhịp thở/ phút. SIMV có thể góp phần làm mệt mỏi cơ hô hấp thực sự, bởi vì tăng công hô hấp do các yếu tố của máy thở (tăng nỗ lực để hoạt hóa van yêu cầu SIMV, không đồng bộ dòng hít vào và thở ra). SIMV với thở tự nhiên qua ống chữ T đã dẫn đến thời gian thở máy dài hơn so với PSV. SIMV có tỷ lệ thất bại cai máy cao hơn. Các chiến lược cai máy dựa trên SIMV dẫn đến thời gian thở máy dài hơn (5 ngày) so với chiến lược dựa trên PSV (4 ngày) và thông khí ống chữ T (3 ngày).

Ống nội khí quản

Ống NKQ lớn nhất có thể luồn vào an toàn nên được sử dụng (> 8 mm). Đường kính lớn thì thuận lợi cho việc lấy bỏ các chất tiết bằng ống hút và giảm kháng trở dòng khí. Giảm áp lực cao nguyên cao < 30 cmH2O với Vt thể tích 6 đến 8 ml/kg sẽ tránh được chấn thương khí áp. Đoạn ống NKQ ở trong khí quản có thể tạo ra co thắt phế quản đáng kể. Điều này thường được ghi nhận sau đặt ống trong phòng phẫu thuật. Sự có mặt của ống NKQ có thể gây nên co thắt phế quản hoặc thông khí “túi đá” vì thỉnh thoảng được miêu tả khi điều này xảy ra trong giai đoạn gây mê. Tiêm truyền tĩnh mạch Lidocaine trước đặt ống có thể dự phòng co thắt phế quản liên quan đến ống NKQ. Tĩnh mạch corticosteroids có thể sử dụng mặc dù hầu hết các chất gây mê thể hơi là thuốc dãn phế quản tuyệt vời. Bổ sung các thuốc khí dung chủ vận β2 cũng có thể được sử dụng và dễ dàng cung cấp cho bệnh nhân.

Vai trò của mở khí quản trong cai máy

Mở khí quản có thể quan trọng ở những bệnh nhân khó cai máy. Mở khí quản thì thường ít gây kích thích cho bệnh nhân hơn ống NKQ, và giảm nhu cầu an thần thường thuận lợi cho cai máy. Mở khí quản cung cấp một đường thở an toàn, điều này làm giảm công hô hấp và giảm tối thiểu nguy cơ viêm phổi liên quan với thở máy (ventilator-associated pneumonia [VAP]). Nhiều nghiên cứu vẫn chưa xác định được mở khí quản dù sớm hay muộn là ưu việt.

XỬ TRÍ CÁC KHÓ KHĂN KHI CAI MÁY BỆNH NHÂN

Bệnh nhân khó cai máy được định nghĩa như là một người đã thất bại ít nhất 1 lần với nghiệm pháp tự thở hoặc đã yêu cầu đặt ống lại trong vòng 48 giờ rút ống. Thất bại của nghiệm pháp tự thở có thể kèm theo sự tăng đáng kể nỗ lực hít vào với mệt mỏi cơ hô hấp. Điều này có thể tạo ra mệt mỏi ngắn hạn, mệt mỏi tần suất cao. Thất bại mỗi nghiệm pháp tự thở hoặc rút ống đòi hỏi phải xác định các yếu tố nghiêm trọng gây nên thất bại. Các điều chỉnh phải được thực hiện sẽ làm tăng sự thành công cai máy và cung cấp hỡ trợ thông khí đầy đủ. Bác sỹ lâm sàng nên tiến hành khám thực thể cẩn thận và xem xét các xét nghiệm chẩn đoán của bệnh nhân để phát hiện và điều trị bất kỳ các yếu tố góp phần có thể đảo ngược được dẫn đến thất bại cai máy.

Hầu hết các phương thức thông khí được sử dụng rộng rãi là thông khí kiểm soát hỗ trợ (thể tích) (ACV), thông khí đồng bộ ngắt quãng (SIMV), và PSV. Một hệ thống phân loại phân chia các bệnh nhân ICU thành các nhóm cai máy đơn giản, cai máy khó khăn (cũng được gọi là cai máy kéo dài)

Những bệnh nhân khó cai máy và cai máy kéo dài này có tỷ lệ tử vong 25%. Thời gian thở máy dài hơn thì liên quan với tăng tỷ lệ tử vong và chi phí (chi phí thở máy hơn 2000 $/ngày), và ước tính 6% bệnh nhân đòi hỏi thở máy kéo dài tiêu tốn 37% các nguồn tài nguyên ICU. Các bệnh nhân bệnh nghiêm trọng hơn thường yêu cầu các giai đoạn thở máy dài hơn. Nhìn chung, 40% đến 50 % thời gian thở máy xảy ra sau khi quy trình cai máy được bắt đầu. Hầu hết các bệnh nhân bệnh nghiêm trọng yêu cầu một giai đoạn nghỉ ngơi sau đặt ống NKQ. Quy trình cai máy nên bắt đầu rất sớm sau khi đặt ống.

QUY TRÌNH CAI MÁY

Thiếu chú ý đến quá trình sàng lọc để xác định một bệnh nhân có khả năng trải qua quy trình cai máy hoặc sự trì hoãn không cần thiết trong tiến hành các bước cai máy thì liên quan với tăng tình trạng bệnh và tăng tử vong cho bệnh nhân. Sử dụng các quy trình cai máy thích hợp đã làm giảm viêm phổi liên quan với thở máy, giảm tỷ lệ bệnh nhân tự rút ống, giảm tỷ lệ mở khí quản, và giảm tối thiểu chi phí bệnh viện. Để có hiệu quả, các quy trình cai máy nên đưa vào một đội ngũ tiếp cận đa ngành với y tá và người trị liệu hô hấp phối hợp với các bác sỹ lâm sàng, tất cả những người có kinh nghiệm trong sử dụng máy thở và quy trình cai máy.

CLINICAL CASE CORRELATION

• See also Case 8 (Airway Management/Respiratory Failure), Case 9 (Ventilator Management), Case 11 (Asthmatic Management), and Case 12 (Non^invasive Methods of Ventilatory Support).

COMPREHENSION QUESTIONS

10.1. Bạn được gọi để tiếp tục cai máy cho một người đàn ông 42 tuổi, người mà hiện tại đang ở ngày 4 sau nhập viện. Anh ấy được đặt ống NKQ cho ARDS thứ phát do hít phải khói trong khi công việc của anh ấy là lính cứu hỏa. Giá trị khí máu động mạch sáng nay trong điều kiện bệnh nhân tỉnh táo và lanh lợi, ngồi tại giường là: pH 7.38, PaC02 39 mm and PaO2 99 mm theo phương thức CPAP 5 cmH2O, PEEP +5, Vt tự nhiên 400 mL, phân số oxy hít vào (FiO2) of 28%. Các thông số cai máy tự thở của anh ấy chỉ rõ lực hít vào âm tính (NIF) -30 cm H20, tần số thở 20 lần/phút, Vt 450 mL, FVC 1.5 L. Anh ấy thì không sốt và thở dễ chịu theo những cài đặt này. Điều nào sau đây là bước kế tiếp trong cai máy thở bệnh nhân này?

  1. Giảm các thông số thông khí và tiếp tục quy trình cai máy
  2. Ngừng thở máy, rút ống cho bệnh nhân, và bắt đầu thở oxy qua cannula mũi.
  3. Thay đổi sang thông khí kiểm soát hỗ trợ.
  4. Tăng áp lực hỗ trợ lên 10 cmH2O.
  5. Cung cấp một thử nghiệm tự thở trong 2 giờ

10.2. Một người đàn ông da trắng 35 tuổi đã thở máy trong 7 ngày. Anh ấy bị liệt tăng dần. Anh ấy có NIF -5 cm H20 và không thể dung nạp bất kỳ nghiệm pháp tự thở nào trong hơn một vài phút mà không có suy hô hấp. Anh ấy có nhiều chất tiết. Lựa chọn tốt nhất cho thở máy là

  1. Thử nghiệm cai máy voái áp lực hỗ  trợ (PSV).
  2. Cân nhắc mở khí quản và dự kiến thở máy dài hạn và nhu cầu của nó.
  3. Chuyển sang thông khí kiểm soát hỗ trợ.
  4. Thực hiện một nghiệm pháp tự thở.
  5. Thử nghiệm thông khí không xâm nhập (NIV).

ANSWERS TO QUESTIONS

10.1. B. Bệnh nhân rõ ràng đã phục hồi sự kiểm soát và khả năng thông khí và bão hòa oxy của riêng mình mà không cần hỗ trợ của máy thở. Tình trạng hô hấp cải thiện được thấy rõ trên lâm sàng và đáp ứng một cách khách quan các thông số cai máy. Các thông số cai máy là dự báo tích cực cho rút ống thành công. Đặc biệt, NIF -30 cm H20 và tỷ số PaO2/ FiO2 > 300 là thông tin quan trọng. Bước tiếp theo tốt nhất là giải phóng bệnh nhân khỏi máy thở bằng cách rút ống cho bệnh nhân và bắt đầu cho bệnh nhân thở oxy qua cannula mũi với mục tiêu độ bão hòa oxy từ 92 đến 95% qua máy theo dõi xung oxy (O2Sat). Điều trị khí dung với chủ vận β2 và ipratropium bromide thường được dùng sau khi rút ống vì khó thở nhẹ xảy ra và thao tác với ống NKQ bản thân nó trong quá trình rút ống gây ra co thắt phế quản và ho.

10.2. B. Bệnh nhân có liệt hô hấp tăng dần, được biết đến tên gọi khác là hội chứng Guillain-Barre. Cơ hô hấp suy yếu nặng sẽ tồn tại dai dẳng trong một số thời gian đáng kể và sẽ yêu cầu chăm sóc thở máy thời gian dài. Vì rút ống là không thể trong tương lai gần, mở khí quản để chăm sóc lâu dài được chỉ định. Mở khí quản sẽ cho phép kiểm soát các chất tiết tốt hơn bằng cách hút thường xuyên và giảm khoảng chết thông khí, đồng thời cải thiện sự thoải mái cho bệnh nhân. Thục hiện mở khí quản là một công cụ quan trọng ở bệnh nhân khó cai máy. Mở khí quản thường ít kích thích cho bệnh nhân hơn là ống NKQ, và giúp giảm yêu cầu an thần, những chiến lược cai máy khác sẽ không thực hiện được. Mở khí quản cũng cung cấp một đường thở an toàn hơn, giảm công hô hấp bằng cách giảm khoảng chết, và giảm tỷ lệ viêm phổi liên quan thở máy. Các ống mở khí quản có cửa sổ mở hoặc có bóng cuff ở phần dưới cũng có thể cho phép bệnh nhân nói chuyện. Một van một chiều chẳng hạn như van Passy-Muir có thể sử dụng để nói. Van này cho không khí đi vào trong thì hít vào và đóng lại trong thì thở ra, bắt buộc không khí thở ra phải đi qua dây thanh âm vì vậy cho phép bệnh nhân nói. Van này có thể sử dụng với máy thở hoặc không có máy thở. Các nghiên cứu đã không xác định được chiến lược nào là ưu việt, mở khí quản sớm < 7 ngày hay mở khí quản muộn > 7 ngày.

CLINICAL PEARLS

Thông khí áp lực hỗ trợ (PSV) là phương pháp đơn giản nhất và hiệu quả nhất trong cai máy thở các bệnh nhân.

Cai máy làm tăng nỗ lực hô hấp của bệnh nhân và tăng nhu cầu oxy cơ tim, làm cho nó là một test căng thẳng của tim phổi.

Đánh giá sẵn sàng cai máy và giảm tiêm thuốc an thần nên được cân nhắc sớm và thường xuyên ở các bệnh nhân bệnh nghiêm trọng được cung cấp thở máy.

Sau tổn thương cấp tính có sự cải thiện hoặc phục hồi, bác sỹ lâm sàng nên tạo nghiệm pháp tự thở ngưỡng thấp ở tất cả bệnh nhân bệnh nghiêm trọng.

Tỷ số Vd/Vt > 100 là một dự báo tuyệt vời cho cai máy thành công và đặc biệt là khi phối hợp với NIF vượt quá -25 cm H20 và hình ảnh lâm sàng ổn định.

Các quy trình cai máy thì không phải là một sự thay thế cho ý kiến và xử trí của chuyên gia lâm sàng.

Áp dụng NIV sau rút ống có thể hỗ trợ sau rút ống bệnh nhân thở máy.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net