» Case 83 Case 83 – Y học online

Cas lâm sàng cấp cứu nhi khoa 2019

Case 83



Emily Obringer

Questions

Một trẻ gái 10 tuổi biểu hiện triệu chứng khó chịu ở chi dưới. Trên thăm khám, phát hiện viêm mô tế bào – cellulitis bờ lòng bàn chân phải. Qua hỏi bệnh, được biết bé gái có chơi đùa tại một công trường gần nhà vài ngày trước và phát hiện mình dẫm phải một vật nhọn. Cô bé cho hay đã nhổ vật nhọn này ra khỏi giày tennis của mình nhưng lại không thể mô tả rõ nó là gì. Sau đó thì vùng chân này đau tăng tại vùng này.

  1. Viêm mô tế bào ở bàn chân sau một vết thương đâm thủng thường do vi sinh vật nào gây ra?
  2. Dự phòng bằng kháng sinh nào tại thời điểm bị tổn thương để ngăn ngừa viêm mô tế bào và các biến chứng khác, như viêm tủy xương – osteomyelitis?
  3. Các phương tiện chẩn đoán nào nên được chỉ định?

Answer

  1. Viêm mô tế bào thường gây ra bởi hệ vi khuẩn trên da – normal skin flora, như tụ cầu hay liên cầu. Trong trường hợp này, viêm mô tế bào tại vết thương đâm thủng tại bàn chân, Pseudomonas aeruginosa cũng là một nguyên nhân thường gặp (Fisher et al, 1985). Ngoài ra tác nhân gây ra viêm mô tế bào cũng nên căn cứ vào môi trường xảy ra. Nhiễm trùng do các vi sinh vật trong môi trường nước, nấm và mycobacterium nên được nghĩ đến trong những trường hợp lâm sàng phù hợp. Nếu có thể, tiến hành nuôi cấy vết thương để có thể xác định được nguyên nhân gây bệnh.
  2. Kháng sinh dự phòng không được nghiên cứu kỹ và do đó các khuyến cáo vẫn còn trang trang cãi. Nhìn chung, nếu bệnh nhân biểu hiện trong 24h đối với vết thương không biến chứng, làm sạch vết thương và kiểm tra lại dị vật là cần thiết (Chisholm and Schlesser 1989; Chachad and Kamat 2004). Bệnh nhân biểu hiện sau 24h thường có các dấu hiệu nhiễm trùng tại chỗ và do đó cần điều trị kháng sinh, hơn là dự phòng. Nếu bệnh nhân biểu hiện giữa 24 và 72h sau khi chấn thương và không có các dấu hiệu của nhiễm trùng, kháng sinh dự phòng có thể được chỉ định (Chachad and Kamat, 2004).
  3. Trừ khi vết thương đâm thủng nông hoặc bệnh nhân biết rõ về dị vật đã được gỡ ra, thì x quang nên được chỉ định để đánh giá dị vật còn mắc lại (nếu có) (Chisholm and Schlesser,1989; Chachad and Kamat 2004). Kim loại, mảnh thủy tinh hay nhựa nhìn chung đều có thể quan sát tốt trên phim x quang. Nếu dị vật thấu xạ – radiolucent object như gỗ, thì có thể cân nhắc siêu âm (Chisholm and Schlesser 1989). Nếu nghi ngờ có viêm tủy xương nên tiến hành các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh khác như MRI có hoặc không kèm với chất cản quang.

Keywords: infectious disease, pitfalls, penetrating trauma.

References:

Chachad S, Kamat D. Management of plantar puncture wounds in children. Clin Pediatr (Phila) 2004;43(3):213–6.

Chisholm CD, Schlesser JF. Plantar puncture wounds: Controversies and treatment recommendations. Ann Emerg Med 1989;18:1352– 57.

Fisher MC, Goldsmith JF, Gilligan PH. Sneakers as a source of Pseudomonas aeruginosa in children withosteomyelitis following puncture wounds. J Pediatr 1985;106(4):607–9.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn