» Case 148 Case 148 – Y học online

Cas lâm sàng cấp cứu nhi khoa 2019

Case 148



Timothy Ketterhagen

Question

Một bà mẹ mang đứa con trai 14 tháng tuổi của mình vào khoa cấp cứu do các vết bầm tím. Người mẹ cho hay rằng vài ngày trước bà đã phát hiện gia tăng số lượng các vết bầm tím trên người con trai mình. Ban đầu chỉ giới hạn tại cẳng chân, nhưng sau đó lan lên tay và mặt. Bệnh nhi có va đụng nhẹ ở đầu một vài lần nhưng bà mẹ cho biết rằng ngoài ra không có bất kỳ tổn thương nào khác. Ngoài ra bệnh nhi vẫn hoạt động bình thường. Không có dấu hiệu của thay đổi thần kinh. KHông nôn, không tiêu chảy, không sụt cân, các khớp k có biểu hiện của đau, và cũng không sốt. Tuần trước có bị nhiễm trùng đường hô hấp trên, nhưng các triệu chứng đã khỏi. Bệnh nhi không có bất kỳ vết bầm tím nào tương tự trước đây. Không có thành viên trong gia đình mắc bệnh chảy máu. Bệnh nhi không sử dụng thuốc và gần đây cũng không có tiêm chủng.

Thăm khám lâm sàng cho thấy trẻ phát triển bình thường. Đốm xuất huyết và bầm tím ở nhiều giai đoạn được ghi nhận ở trán, da đầu, tay và phía dưới của hai chi dưới. Da trẻ không có tổn thương nào khác, tuần hoàn tốt, không nhạt màu hay vàng da. KHông có chảy máu ở mũi hoặc miệng. THăm khám phổi và tim mạch không ghi nhận bất thường. Gan lách không lớn. Bệnh nhi tỉnh và hoạt động bình thường, chưa phát hiện bất thường gì về thần kinh. Thăm khám lâm sàng cơ quan khác chưa ghi nhận bất thường.

Chẩn đoán, nguyên nhân và điều trị trong trường hợp này?

Answer

Bệnh nhi mắc phải tình trạng xuất huyết giảm tiểu cầu tự miễn dịch – immune thrombocytopenic purpura (ITP). ITP được đặc trưng bởi tình trạng giảm tiểu cầu đơn thuần, dưới mức 150*109/L, ban xuất huyết, và tủy xương bình thường (các dòng tế bào máu khác vẫn bình thường). Bệnh lý này là do sự hình thành tự kháng thể kháng lại kháng nguyên tiểu cầu. Đời sống tiểu cầu do vậy mà bị rút ngắn. Biểu hiện ban đầu thông thường là trẻ phát triển bình thường, khởi phát đột ngột đốm xuất huyết, ban xuất huyết and/or bàm tím. Chảy máu ở niêm mạc cũng có thể hiện diện. Phần lớn trường hợp là sau nhiễm virus. ITP cũng có thể phát hiện sau khi tiêm vaccine MMR (measles – mumps – rubella). Xuất huyết nội sọi là một nguy cơ nghiêm trọng và nên được cân nhắc khi có biểu hiện của đau đầu, thay đổi thần kinh và số lượng tiểu cầu <20*109/L.

Các triệu chứng khác như sốt, sụt cân, mệt mỏi, hiếm gặp ở ITP. Tiền sử gia đình thường không ghi mắc bệnh lý chảy máu. Đánh giá cẩn thận là cần thiết để loại trừ các nguyên nhân gây giảm tiểu cầu khác như giảm tiểu cầu do thuốc, bệnh lý tiểu cầu bẩm sinh, ung thư và các bệnh lý tiểu cầu di truyền và mắc phải/

Công thức máu toàn phần là cần cho chẩn đoán, nhưng PT, PTT và nhóm máu vẫn cần được thực hiện. Hội chẩn với các bác sĩ huyết học là cần thiết để loại trừ các nguyên nhân giảm tiểu cầu khác. ĐIều trị bao gồm có ổn định ban đầu, IVIG và corticoid.

Tham khảo ý kiến của bác sĩ huyết học trước khi chỉ định corticoid để có thể hỗ trợ loại trừ chẩn đoán leukemia. Anti – Rh (D) có thể được sử dụng. Truyền tiểu cầu không hữu ích bởi vì làm tăng sự phá hủy tiểu cầu của hệ thống miễn dịch. Hầu hết bệnh nhi đều có diễn tiến lành tính và 60% bệnh nhi có số lượng tiểu cầu bình thường trong 3 tháng.

Keywords: hematology, dermatology, child abuse mimicker, do not miss

Bibliography

Hoffman RJ, Wang VJ, Scarfone R. Fleisher & Ludwig’s 5-Minute Pediatric Emergency Medicine Consult. Philadelphia: Wolters Kluwer Health/Lippincott Williams & Wilkins, 2012.

McAninch S, Letbetter SA. Renal & genitourinary emergencies. In Current Diagnosis & Treatment: Pediatric Emergency Medicine, Stone CK, Humphries RL, Drigalla D, Stephan M, eds. New York: McGraw-Hill, 2015:chap. 38.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn