» Case 112 Case 112 – Y học online

Cas lâm sàng cấp cứu nhi khoa 2019

Case 112



Emily Obringer

Question

Một bệnh nhi nam 5 tuổi vào viện vì tình trạng suy hô hấp từ 24 h trở nên nặng hơn. Cậu bé có tình trạng ho kéo dài vài tháng nay và được chẩn đoán là hen và viêm phổi khi nhập viện tại khoa cấp cứu gần đây. Bệnh nhi đã tuân thủ điều trị nhưng chỉ có một ít thay đổi không đáng các triệu chứng.

Thăm khám lâm sàng ghi nhận thởi nhanh đáng kê,r co kéo, giảm âm thở, và gõ đục khắp phổi trái. Xquang ngực cho thấy tình trạng mờ khắp phổi trái. Nhận thấy không cải thiện với điều trị thông thường, bệnh nhi được chuyển vào viện và được tiến hành soi phế quản. Cặn dạng cây phế quản lớn, dày được loại bỏ.

Chẩn đoán ở bệnh nhân là gì, và bệnh lý thường gặp nhất?

Answer

Bệnh lý đường thở và viêm phôi là những nguyên nhân thường gặp ở bệnh nhân có mặt tại khoa cấp cứu với các triệu chứng của viêm phổi. Tuy nhiên, khi triệu chứng không đáp ứng với các liệu pháp chuẩn hoặc khi tiền sử của bệnh nhân hoặc trên thăm khám lâm sàng không phù hợp, các chẩn đoán thay thể nên được đề ra. Trong trường hợp này khi tiến hành soi phế quản phát hiện ra các cặn phế quản – bronchial casts do đó nên hướng đến chẩn đoán đó là plastic bronchitis.

Plastic bronchitis là một bệnh lý hiếm gặp, chủ yếu gặp ở trẻ em và được đặc trưng bởi khác hoặc nội soi phế quản lấy ra được cặn có hình cây phế quản – branching brochial casts.

Không giống như các bệnh lý khác có các nút nhấy như nhiễm nấm aspergillus khí quản phổi dị ứng – allergic bronchopulmonary aspergillosis (ABPA) và hen phế quản, những cặn này lớn, chắc và dính chặt vào thành đường thở. Bệnh có thể có liên quan đến các bất thường trong dẫn lưu bạch huyết. Bệnh nhân mắc phải bệnh lý này thường có bệnh hệ thống, với bệnh tim bẩm sinh, đặc biệt là sau phẫu thuật chỉnh sẳ là thường gặp nhất (Dori et al., 2014). Bệnh nhân biểu hiện ho, khó thở, và tắc nghẽn đường thở và thường bị chẩn đoán nhầm ban đầu với các bệnh lý đường thở khác hay viêm phổi. Điều trị thông thường với albuterol, steroids, acetylcysteine, và dornase alfa sẽ không cho hiệu quả. Các liệu pháp khác như hoạt hóa plasminogen mô – tissue plasminogen activator, và giãn mạch phổi – pulmonary vasodilator như sildenafil được sử dụng. Cơ thể áp dụng biện pháp thắt ống ngực và gây nghẽn mạch bạch huyết cho thấy hiệu quả trong điều trị (Caruthers et al., 2013). Nội soi phế quản cấp loại bỏ cặn gây tắc nghẽn đường thở có thể cứu sống tính mạng bệnh nhân trong trường hợp khẩn cấp. – “Thoracic duct ligation and selective lymphatic collateral embolization have been shown to be curative (Caruthers et al., 2013). Acute bronchoscopic removal of cast causing airway obstruction may be lifesaving.” (phần này do hạn chế trong kiến thức chuyên môn nên xin giữ lại nguyên tác tiếng anh của tác giả).

Có thể tham khảo thêm về một bài viết vào năm 2017 từ The annals of Thoracic Surgery về biện pháp thắt ống ngực trong điều trị plastic bronchitis. (bản quyền tài liệu và video thuộc The Annals of Thoracic Surgery, và đường dẫn dưới chỉ với mục đích trao đổi kiến thức, học tập)

https://drive.google.com/open?id=1kdqwSCrcl_ Ea6F91Mu5DdAqBDcG1THpP – có thể tham khảo thêm bản dịch tiếng việt tại đây:

https://drive.google.com/open?id=1zz5Z5kgdOMno-ggpZQbDvHJbHb7znIMm

Keywords: mimickers, pulmonary, respiratory distress.

Bibliography

Caruthers RL, Kempa M, Loo A, Gulbransen E, Kelly E, Erickson KR, Hirsch S, Schumacher KR, Stringer KA. Demographic characteristics and estimated prevalence of Fontan-associated plastic bronchitis. Pediatr Cardiol 2013;34(2):256–61.

Dori Y, Keller MS, Rychik J, Itkin M. Successful treatment of plastic bronchitis by selective lymphatic embolization in a Fontan patient. Pediatrics 2014;134:e590–5.

Panchabhai TS, Mukhopadhyay S, Sehgal S, Bandyopadhyay D, Erzurum SC, Mehta AC. Plugs of the air passages: A clinicopathologic review. Chest 2016;150(5):1141–57.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn