» Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị viêm đường hô hấp cấp tính do chủng vi rút Corona mới (2019-nCoV) – Bộ y tế 6/2/2020 Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị viêm đường hô hấp cấp tính do chủng vi rút Corona mới (2019-nCoV) – Bộ y tế 6/2/2020 – Y học online

Cập nhật chẩn đoán điều trị novel corona virus

Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị viêm đường hô hấp cấp tính do chủng vi rút Corona mới (2019-nCoV) – Bộ y tế 6/2/2020



(Ban hành kèm theo Quyết định sổ 322 /QĐ-BYT ngày 06 thảng 2 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế)

I. ĐẠI CƯƠNG

Vi rút Corona (CoV) là một họ virút có khả năng lây truyền từ động vật sang người và gây bệnh cho người từ cảm lạnh thông thường đến các tình trạng bệnh nặng, đe dọa tính mạng của người bệnh như Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS-CoV) năm 2002 và HỘI chứng hô hấp Trung Đong (MERS-CoV) năm 2012. Từ tháng 12 năm 2019, một chủng vi rút corona mới (2019-nCoV) đã được xác định là căn nguyên gây dịch nhiễm trùng hô hấp cấp tính tại thành phố Vũ Hán (tỉnh Hô Băc, Trung Quốc), sau đó lan rộng ra toàn Trung Quốc và nhiêu quôc gia trên thê giới. Chủng 2019-nCoV ngoài khả năng lây truyền từ động vật sang người, còn có khả năng lây trực tiếp từ người sang người qua giọt bắn đường hô hấp khi tiếp xúc gần.

Người nhiễm 2019-nCoV có biểu hiện lâm sàng đa dạng: từ nhiễm không có triệu chứng, giông như cảm cúm thông thường, tới những biểu hiện bệnh lý nặng như viêm phôi nặng, suy hô hâp, sôc nhiễm trùng, suy chức năng đa cơ quan và tử vong, đặc biệt ở những người cao tuổi, người có bệnh mạn tính hay suy giảm miễn dịch.

Hiện nay chưa có thuốc đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng bệnh 2019- nCoV nên chủ yếu là điều trị hỗ trợ và điều trị triệu chứng. Các biện pháp phòng bệnh chính là phát hiện sớm và cách ly ca bệnh.

II. CHẨN ĐOÁN

1. Định nghĩa ca bệnh

1.1 Trường hợp bệnh nghi ngờ

Bao gồm các trường hợp:

  1. Người bệnh có sốt và viêm đường hô hấp cấp tính VÀ không lý giải được băng các căn nguyên khác VA có tiên sử đên/ở/đi vê từ vùng dịch tễ có bệnh do 2019-nCoV trong khoảng 14 ngày trước khi khởi phát các triệu chứng.

HOẶC

nCoV.

* Tiếp xúc gần bao gồm:

2019-nCoV.

Là các trường họp bệnh nghi ngờ nhưng không thể lấy bệnh phẩm xét nghiệm hoặc chưa có kết quả xét nghiệm khẳng định.

Là trường họp bệnh nghi ngờ hoặc có thể đã được khẳng định bằng xét nghiệm real-time RT-PCR dương tính với 2019-nCoV hoặc bằng kỹ thuật giải trình tự gene.

  1. Thời gian ủ bệnh: từ khi có phơi nhiễm với căn nguyên cho đến khi có triệu chứng đầu tiên từ 2-14 ngày, trung bình từ 5-7 ngày.
  2. Triệu chứng lâm sàng ban đầu hay gặp là sốt, ho khan, mệt mỏi và đau cơ. Một sô trường họp đau họng, nghẹt mũi, chảy nước mũi, đau đâu, ho có đờm, nôn và tiêu chảy.
  3. Diễn biến:

+ Hầu hết người bệnh chỉ sốt nhẹ, ho, mệt mỏi, không bị viêm phổi và thường tự hồi phục sau khoảng 1 tuần.

+ Một số trường họp có thể viêm phổi, viêm phổi nặng, diễn tiến tới suy hô hâp câp (thở nhanh, khó thở, tím tái, …), hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS), sốc nhiễm trùng, rối loạn thăng bằng kiềm-toan, suy chức năng các cơ quan dân đên tử vong. Thời gian trung bình từ khi có triệu chứng ban đầu tới khi diễn biến nặng thường khoảng 7-8 ngày.

,+ Tử vong xảy ra nhiêu hon ở người cao tuổi, người suy giảm miễn dịch và mắc các bệnh mạn tính kèm theo.

Các xét nghiệm huyết học, sinh hóa máu thay đổi không đặc hiệu:

Viêm đường hô hấp cấp tính do 2019-nCoV có thể biểu hiện các thể bệnh trên lâm sàng như sau:

Người bệnh có các triệu chứng không đặc hiệu như sốt, ho khan, đau họng, nghẹt mũi, mệt mỏi, đau đầu, đau mỏi cơ. Người cao tuổi hoặc người suy giảm miễn dịch có thế có các triệu chứng không điển hình.

nặng.

được chân đoán viêm phôi và có bất kỳ dấu hiệu nặng sau: không thê uống/bú được; rối loạn ý thức (li bì hoặc hôn mê); co giật. Có thể có các dâu hiệu khác của viêm phổi như rút lõm lồng ngực, thở nhanh (tần số thở/phút như trên). Chân đoán dựa vào lâm sàng, chụp X-quang phổi để xác định các biến chứng.

+ ARDS nhẹ: 200 mmHg < P/F <300 mmHg với PEEP hoặc CPAP >5 cm

H20.

+ ARDS vừa: 100 mmHg <P/F <200 mmHg với PEEP >5 cmH20).

+ ARDS nặng: P/F <100 mmHg với PEEP > 5 cmH20

+ Khi không có Pa02: S/F <315 gợi ý ARDS (kể cả những người bệnh không thở máy)

+ NIV BiLevel hoặc CPAP >5 cmH20 qua mặt nạ: Pa02/Fi02< 300 mmHg hoặc Sp02/Fi02 <264

+ ARDS nhẹ (thở máy xâm nhập): 4 <OI<8 hoặc 5<OSI<7,5

+ ARDS vừa (thở máy xâm nhập): 8 <OI<16 hoặc 7,5<OSI<12,3

+ ARDS nặng (thở máy xâm nhập): OI >16 hoặc OSI >12,3

+ Thay đổi ý thức: ngủ gà, lơ mơ, hôn mê

+ Khó thở hoặc thở nhanh, độ bão hòa ô xy thấp

+ Nhịp tim nhanh, mạch bắt yếu, chi lạnh, hoặc hạ huyết áp, da nổi vân tím

+ Thiếu niệu hoặc vô niệu

+ Xét nghiệm có rối loạn đông máu, giảm tiểu cầu, nhiễm toan, tăng lactate, tăng bilirubine…

-Trẻ em: khi nghi ngờ hoặc khẳng định do nhiễm trùng và có ít nhất 2 tiêu chuân của hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (SIRS) và một trong số đó phải là thay đôi thân nhiệt hoặc số lượng bạch cầu bất thường.

+ Bất kỳ tình trạng hạ huyết áp nào: khi huyết áp tâm thu < 5 bách phân vị hoặc > 2SD dưới ngưỡng bình thường theo lứa tuổi, hoặc (trẻ <1 tuổi: < 70 mmHg; trẻ từ 1-10 tuổi: < 70 + 2 X tuổi; trẻ > 10 tuổi: <90 mmHg).

+ Hoặc có bất kỳ 2-3 dấu hiệu sau: thay đổi ý thức, nhịp tim nhanh hoặc chậm (< 90 nhịp/phút hoặc >160 nhịp/phút ở trẻ nhũ nhi, và <70 nhịp/phút hoặc >150 nhịp/phút ở trẻ nhỏ); thời gian làm đầy mao mạch kéo dài (>2 giây); hoặc giãn mạch âm/mạch nây; thở nhanh; da nổi vân tím hoặc có chấm xuất huyết hoặc ban xuất huyết; tăng nồng độ lactate; thiểu niệu; tăng hoặc hạ thân nhiệt.

+ Vi rút cúm mùa (A/H3N2, A/H1N1, B), vi rút á cúm, vi rút họp bào hô hâp (RSV), rhỉnovỉrus, myxovỉrrus, adenovỉrus.

+ Hội chứng cúm do các chủng coronavỉrus thông thường.

+ Các căn nguyên khuẩn vi khuẩn hay gặp, bao gồm các các vi khuẩn không điến hình như Mycoplasma pneumonỉa etc.

+ Các căn nguyên khác có thể gây viêm đường hô hấp cấp tính nặng như cúm gia cầm A/H5N1, A/H7N9, SARS-CoV, và MERS-CoV.

, – Trường họp xác định nhiễm 2019-nCoV, cần lấy mẫu bệnh phẩm dịch ho hap va xét nghiệm nhăc lại với khoảng cách môi 2-4 ngày hoặc ngắn hon nếu cần thiết cho tới khi kết quả âm tính.

Dự phòng lây nhiễm là một bước quan trọng trong chẩn đoán và điều trị người bệnh viêm đường hô hấp cấp do 2019-nCoV, do vậy cần được thực hiện ngaỵ khi người bệnh tới nơi tiêp đón ở các cơ sở y tế. Các biện pháp dự phòng chuân phải được áp dụng ở tât cả các khu vực trong cơ sở y tế.

  1. Cho người bệnh nghi ngờ đeo khẩu trang và hướng dẫn tới khu vực cách

ly­- Giữ khoảng cách tối thiểu là lm giữa các người bệnh.

viên y tè phải,sử dụng các trang thiết bị bảo vệ cá nhân (khẩu

fray\gJ te\ }: kính bảo vmăt’ gang taỵ, áo choàng) khi vào phòng bệnh và cởi bó khi ra khỏi phòng, và tránh đưa tay bẩn lên mắt, mũi, miệng.

” Tránh, làm nhiêm bân các bề mặt môi trường xung quanh như cửa phòng, công tăc đèn, quạt…

,        ” Các nhân viên y tế khi thực hiện các thủ thuật như đặt ống nội khí quản

hút đường hô hấp, soi phế quản, cấp cứu tim phổi… phải sử dụng các thiết bỉ bảo vệ cá nhân bao gồm đeo găng tay, áo choang, bảo vệ mắt, khau trang N95 hoặc tương đương.

ĨChau trang y te: Theo hướng dân chi tiêt vê phòng ngừa kiểm soát lây nhiễm đối với bệnh nCoV

1. Nguyên tắc điều trị chung

+ Các trưcmg họp bệnh nghi ngờ hoặc trường họp bệnh có thể (có thể xem như tinh trạng cap cứu): cân được khám, theo dõi và cách ly ở khu riêng tại các cơ sở y tế, lấy bệnh phẩm đúng cách để làm xét nghiệm đăc hiêu chẩn đoán xác định.

+ Trường họp bệnh xác định cần được theo dõi và điều trị cách ly hoàn

toàn.

+ Ca bệnh nhẹ (viêm đường hô hâp trên, viêm phổi nhẹ) điều trị tại các khoa phòng thông thường.

+ Ca bệnh nặng (viêm phôi nặng, nhiễm trùng huyết) cần được điều trị tại các phòng câp cứu của các khoa phòng hoặc hồi sức tích cực.

+ Ca bệnh nặng-nguy kịch: (suy hô hấp nặng, ARDS, sốc nhiễm trùng, suy đa cơ quan) cần được điều trị hồi sức tích cực.

yếu.

phép.

bệnh.

7 Với trẻ em, cho thở ô xy để đạt đích Sp02 > 92 %. Nếu trẻ có các dấu hiệu câp cứu như khó thở nặng, tím tái, sốc, hôn mê, co giật.., cần cung câp ô xy trong quá trình cấp cứu để đạt đích Sp02 > 94%.                                                                       

+ Thở máy: áp dụng chiến lược thở máy bảo vệ phổi, với thể tích khí lưu thông thâp (4-8 ml/kg trọng lượng lý tưởng) và áp lực thì thở vào thấp (giữ áp lực cao nguyên hay Pplateau < 30 cmH20, ở trẻ em, giữ Pplateau < 28 cmH20). Thê tích khí lưu thông ban đâu 6 ml/kg, điêu chỉnh theo sự đáp ứng của người bệnh và theo mục tiêu điều trị.

+ Chấp nhận tăng C02, giữ đích pH > 7.20.

+ Trường hợp ARDS nặng, cân nhắc áp dụng thở máy ở tư thế nằm sấp > 12 giờ/ngày (nếu co thể).

+ Áp dụng chiến lược PEEP cao cho ARDS vừa và nặng.

+ Tránh ngắt kết nối người bệnh khỏi máy thở dẫn tới mất PEEP và xẹp phổi. Sử dụng hệ thống hút nội khí quản kín.

+ Ở trẻ em và trẻ sơ sinh, có thể thở máy cao tần (HFOV-High Frequency Oscillatory Ventilation) sớm (nếu có), hoặc khi thất bại với thơ máy thông thường. Không sử dụng HFOV cho người lớn.

+ Cần đảm bảo an thần, giảm đau thích hợp khi thở máy. Trong trường họp ARDS vừa- nặng, có thê dùng thuôc giãn cơ, nhưng không nên dùng thường quy.

Áp dụng phác đồ điều trị sốc nhiễm trùng cho người lớn và trẻ em. Chú ý một số điểm sau:

+ Người lớn: truyền nhanh 250-1000 ml, ít nhất đạt 30 ml/kg trong 3 giờ

đầu.

+ Trẻ em: 10-20 ml/kg, truyền tĩnh mạch nhanh trong 15-20 phút, nhắc lại nếu cần thiết, có thể cho tới 40-60 ml/kg trong giờ đầu.

Nêu tình trạng huyêt động, tưới máu không cải thiện, cần cho thuốc vận mạch sớm.

Tùy từng tình trạng cụ thể của mỗi người bệnh để có các biện pháp hỗ trợ thích họp.

+ Đảm bảo huyết động, cân bằng nước và điện giải, thuốc lợi tiểu khi cần

thiết

+ Nêu tình trạng suy thận nặng, suy chức năng đa cơ quan và/hoặc có quá tải dịch, chỉ định áp dụng các biện pháp thận thay thế như lọc máu liên tục, lọc máu ngăt quãng, hoặc thâm phân phúc mạc tùy điêu kiện của cơ sở điều trị.

Hiện nay chưa có thuôc điêu trị đặc hiệu cho 2019-nCoV và bằng chứng vê hiệu quả, tính an toàn của các thuôc kháng vi rút ức chế sao chép ngược (Antiretroviral hay ARV) và các thuốc kháng vi rút khác. (Bộ Y tế sẽ đưa ra khuyên cáo sau khi xem xét kết quả các thử nghiệm lâm sàng của thế giới và Việt Nam).

Các trường hợp ARDS nặng và/hoặc sốc nhiễm trùng nặng không đáp ứng hoặc đáp ứng kém với các biện pháp điều trị thường quy (có thể do các cơn bão cytokine gây ra). Cân nhắc sử dụng các biện pháp lọc máu liên tục ngoài cơ thê băng các loại quả lọc có khả năng hâp phụ cytokines.

Có thể cân nhắc sử dụng IVIG cho từng trường hợp cụ thể.

Có thế cân nhắc sử dụng interferon cho từng trường họp cụ thể (nếu có).

Cân nhắc điều trị phục hồi chức năng hô hấp sớm cho các người bệnh có suy hô hấp.

Với các trường hợp nặng điều trị tại các đơn vị hồi sức tích cực, cần dự phòng các biến chứng hay gặp sau:

Áp dụng và tuân thủ gói dự phòng viêm phổi liên quan tới thở máy:

Sử dụng bảng kiểm để theo dõi áp dụng các gói dự phòng khi đặt đường truyên và chăm sóc đường truyên trung tâm. Rút đường truyền trung tâm khi không cần thiết.

Xoay trở người bệnh thường xuyên

Khi có thể, tích cực cho vận động sớm trong quá trình điều trị.

Phụ nữ mang thai: khi nghi ngờ hoặc khẳng định nhiễm 2019-nCoV cần được điêu trị theo các biện pháp như trên, tuy nhiên cần chú ý tới những thay đổi sinh lý khi mang thai.

  1. Hết sốt ít nhất 3 ngày.
  2. Các triệu chứng lâm sàng cải thiện, toàn trạng tốt, các dấu hiệu sinh tồn ôn định, chức năng các cơ quan bình thường, xét nghiệm máu trở về bình thường, X-quang phổi cải thiện.
  3. Hai mẫu bệnh phẩm (lấy cách nhau ít nhất 1 ngày) xét nghiệm âm tính với 2019-nCoV.

Người bệnh cân theo dõi thân nhiệt tại nhà 2 lần/ngày, nếu thân nhiệt cao hon 38°c ở hai lân đo liên tiếp hoặc có các dấu hiệu bất thường khác, phải đến khám lại ngay tại các cơ sở y tế.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net