» Chương I: Nguyên tắc chung của giáo dục Chương I: Nguyên tắc chung của giáo dục – Y học online

Các lỗi thường gặp trong lâm sàng

Chương I: Nguyên tắc chung của giáo dục



Bài 1 Nguyên tắc chung của giáo dục

Mọi người đều biết 3 nguyên tắc chuyển động chung của thế giới này này dạy, học và sinh sản. cần phải sinh sản vì mỗi sinh vật sống sẽ tử vong và cuộc đời thì ngắn ngủi. nếu không có sinh sản thì loài đó sẽ tuyệt diệt. 2 yếu tố còn lại (dạy và học) đòi hỏi phải có dòng kiến thức liên tục. luôn có người dạy và người học, có thể là kiến thức trồng trọt, lao động, nấu ăn hay bất cứ cái gì, trong đó có y học. thông thường cha mẹ dạy con mình, đây là điều tiếp diễn cả ngàn đời. nếu cha mẹ không dạy con mình kiến thức mình có, thì kiến thức này sẽ mất sau khi họ chết. Vậy nên, mỗi người nên dạy con cái của mình. với sự tiến bộ của thời gian, 1 số người thông minh trở thành thày giáo và họ dạy sinh viên . họ chủ yếu dạy nguyên tắc sống của xã hội và những chủ đề khác. Ngày nay, việc giảng dạy trở nên phức tạp hơn, nhưng mục tiêu cơ bản của giảng dạy không thay đổi. mỗi người thày sẽ dạy sinh viên của họ mọi thứ họ học được trong quá trình thực hành. để dạy tốt thì phải học tốt, trước khi thành người thày giỏi anh phải là sinh viên giỏi. 1 người thày không thể dạy tốt nếu kiến thức hạn hẹp. mỗi giảng viên phải tự hỏi mình có đủ kiên thức để giải thích thắc mắc của sinh viên hay không, nếu không anh ta cần phải cố gắng để trở nên tốt hơn.

Để trở thành người thày tốt, anh phải có kiến thức sâu, đủ khả năng giải thích và biết cách truyền tải cho sinh viên. Giảng cho sinh viên đại học khác với sinh viên sau đại học. Sinh viê n ngày hôm nay sẽ là giả ng viên của ngày mai, vì vậy nên h ọc tốt nhất có thể . Trong lĩnh vực y học, việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng và giảng dạy nằm trong tay các bác sĩ tương lai, vì vậy tôi luôn mòng các sinh viên y học càng nhiều càng tốt và hiểu về sứ mệnh của họ 

Kiến thức nhân loại sở hữu ngày nay có sự đóng góp của nhiều người. Kiến thức thay đổi từng ngày trong mọi lĩnh vực, điều này chỉ có thể nếu nhiều người góp sức khả năng cải thiện kiến thức đã dựa trên quan sát chặt chẽ và kinh nghiệm gọi là nghiên cứu. Vì vậy, mỗi cá nhân nên cải thiện vốn kiến thức hiện có của mình trong lĩnh vực của mình. Các bác sĩ cũng vậy, tuy nhiên không phải ai cũng có thể cải thiện vốn kiến thức của mình. Đừng nên lo lăng về điều này bởi vì việc duy trì kiến thức hiện tại quan trọng hơn việc thu nhận kiến thức mới. tôi trích dẫn 1 câu tiếng Sanskrit Sloka-

“Praja sangrakhyati nrupa sa bardhayati parthibam, Bardhandrakyanam sreyastadabhabe sadapasyat”

(Hitopadesh, P-36).

Nó có nghĩa là người dân và vua, vua là người cao nhất vì vua duy trì vương quốc. Xây dựng vương quốc mới thì dễ nhưng duy trì nó thì khó. Không duy trì được thì sẽ mất

Mỗi cá nhân nên cố duy trì vốn kiến thức sẵn có. Điều này không khó với những ai thực hành và duy trì hàng ngày. Nếu anh làm giảng dạy, anh không bao giờ được để kiến thức tụt hậu. Khi để kiến thức mai một, sẽ rất khó để lấy lại nó. Bất cứ kiến thức mới nào quan sát hay thực hành thấy được, anh không chỉ nên dạy cho sinh viên mà còn phải lưu lại dưới dạng bài báo hay thành sách

Thánh kinh nói rằng giáo viên không nên che giấu kiên thức với sinh viên không nên “giấu nghề”, nhưng có thể chọn người để trao nhiều kiến thức hơn. Giấu kiến thức với sinh viên là tội lớn, nó giống như người mẹ không cho con bú vậy điều này cũng khuyên sinh viên nên coi giảng viên của họ như thượng đế; nếu giảng viên và sinh viên hiểu vậy thì việc truyền tải tri thức sẽ không là vấn đề gì. Tuy nhiên, cả giảng viên và sinh viên hiện này đều quên nguyên tắc cơ bản này  của giáo dục

Hiểu như nào?

Học y là khoa học thực tiễn. người thụ hưởng kiến thức của chúng ta chính là bệnh nhân. kiến thức nên sử dụng vì lợi ích của bệnh nhân. tôi luôn nói với sinh viên của tôi”không có kiến thức thì vô dụng”. nên mỗi sinh viên cần biết với kiến thức này mình sẽ dùng như nào để giúp bệnh nhân. giáo viên sẽ giúp điều này. Mr William Osler nói rằng cái gì không biết mắt sẽ không thể nhìn thấy. ông nhấn mạnh mối liên quan giữa lý thuyết và thực hành. để dùng lý thuyết vào thực hành, bạn phải quan tâm đến bệnh nhân. bạn thực hành càng nhiều thì trí nhớ của bạn nó sẽ tự động lưu lại (biết làm sao cho đúng) để có thể xử trí tình huống tốt hơn. Để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học thực tế, Sir William Osler đã nói – “để nghiên cứu hiện tượng của bệnh mà không có sách giống như đi thuyền khám phá biển không có mục đích”. Một bệnh có thể biểu hiện khác nhau ở những người khác nhau, có thể cần hoặc không cần điều trị. Không giống như khoa học 2 + 2 có thể luôn bằng 4; đôi khi có thể là 5, có thể là 3 và đôi khi nó có thể là 0. Vì vậy, để làm quen với tất cả những biến đổi này nên có kiến thức sâu rộng. Các bệnh được mô tả trong sách là số liệu của một số bệnh nhân được nhiều bác sĩ quan sát trong nhiều năm. Tất cả những bệnh nhân này biểu hiện không giống nhau và không đầy đủ triệu chứng như mô tả trong sách. Vì vậy, mỗi bệnh nhân phải được đánh giá và điều trị theo biểu hiện riêng của họ. Đó là lý do tại sao người ta thường nói rằng mỗi bệnh nhân là một cuốn sách. Sinh viên y khoa nên cố gắng thu thập kiến   thức lý thuyết càng nhiều càng tốt và nên biết cách áp dụng kiến   thức này vào từng bệnh nhân. Tôi sẽ đưa ra một ví dụ đơn giản để nhấn mạnh sự cần thiết của kiến   thức thực tiễn. người ta biết rõ lượng dịch thiếu và tốc độ truyền cho bệnh nhân mất nước, nhưng không lấy được ven thì kiến thức này trở nên vô dụng quả thật tôi biết 1 bs không thể lấy được ven cho bệnh nhân và bệnh nhân chết trên đường vận chuyển tới bệnh viện

Bài 2 Kiến thức chắp vá

Sinh viên nên cố gắng tìm hiểu và trau đồi kiến thức rõ ràng và đầy đủ nhất có thể. Kiến thức kèm sẽ hại người và hại mình. Tôi sẽ đưa ra một ví dụ về hiểu biết sai sẽ có thể gây tử vong. Trong điều trị hàng ngày của chúng ta, penicillin thường được tiêm trong vỏ điều trị viêm màng não mủ. Một bác sĩ đã chọc dịch não tủy, lấy dịch não tủy, xét nghiệm có nhiều mủ. Anh ta quyết định dùng penicillin tiêm trong vỏ (intrathecal) nhưng anh ta lại không nhớ liều dùng của nó. anh ta tiêm 10 lakh đơn vị benzyl penicillin. Ngay sau khi tiêm, bệnh nhân xuất hiện co giật nhiều đợt và qua đời. ở đây, chẩn đoán của anh ta đúng, thủ thuật chọc dịch não tủy đúng, cho dùng penicillin tiêm dưới vỏ cũng đúng nhưng sai sót duy nhất là dùng sai liều penicillin dẫn tới bênh nhân tử vong. Đây là một ví dụ về kiến thức không đầy đủ có thể gây hại như thế nào.

Dĩ nhiên là bạn không thể biết hết mọi thứ. Vì vậy, khi còn là sinh viên, bạn nên tìm hiểu chi tiết tất cả các vấn đề thường gặp ở địa phương cụ thể và nguyên tắc điều trị cơ bản bất cứ khi nào nghi ngờ điều gì cần mở sách ra đọc.

Bài 3 Hội chứng và dấu hiệu

Tôi có quan sát qua nhiều năm, nhiều sinh viên cố gắng để biết 1 số hội chứng và cố nhớ 1 số dấu hiệu được đặt tên bởi các nhà khoa học khác nhau. Đặc biệt một số giảng viên cũng yêu cầu sinh viên học y như vậy. Hầu hết các triệu chứng đều không hay gặp; có thể vài năm mới gặp 1 lần. Vì vậy, sinh viên không cần phải cố nhớ chúng. Tương tự, có một số dấu hiệu cần nhớ trong các bệnh khác nhau. Nhiều triệu chứng lấy tên của các nhà khoa học. 1 số giúp ích cho chẩn đoán tại giường nhưng đa số không phải vậy, Vì vậy, sinh viên nên biết tầm quan trọng của các dấu hiệu này trong chẩn đoán và nhớ chúng. Ví dụ, hở van động mạch chủ có rất nhiều dấu hiệu ngoại vi, nhưng không có dấu hiệu nào đặc hiệu giúp ích cho chẩn đoán. Vì vậy, không cần phải ghi nhớ tất cả những dấu hiệu này. Các giáo viên nên dạy sinh viên các triệu chứng và dấu hiệu đáng ghi nhận và hay gặp.

Bài 4 Sách tham khảo

Có vô số sách tham khảo có sẵn trên thị trường. bạn không thể đọc, hiểu, nhớ tất cả cuốn sách này.

Dù có thể trong sách kiến thức có thể khác biệt so với bài giảng của giáo viên. Vì vậy, sinh viên có thể theo dõi bất kỳ một hoặc hai cuốn sách nào đó để có kiến thức cơ bản. Tôi coi những quyển sách này là sách tạo bộ kh un g xương. sinh viên có thể đọc càng nhiều sách càng tốt và thêm thịt vào bộ xương. Việc đọc lại cùng một cuốn sách cho thấy bạn sẽ hiểu tốt hơn nhiều so với việc đọc rất nhiều sách. Tuy nhiên, bạn có thể tham khảo các chủ đề khác nhau trong sách. nếu có điểm không rõ bạn có thể thử tìm trong 1 cuốn sách khác. Giáo viên có thể hướng dẫn sinh viên xem chủ đề nào nên đọc từ cuốn sách nào. Không thể giới thiệu bất kỳ cuốn sách nào vì tất cả các quan điểm đều không thể có sẵn từ một cuốn sách. Đối với việc xử tr í bệ nh nhâ n, cầ n phải tham khảo nhiều sách. Hầu hết các tình huống sẽ xử trí theo bộ sách khung xương bạn tạo dựng

Tôi nhớ một trường hợp sốt thường hàn tiến triển điếc. Trên thực tế bệnh nhân là một giáo sư về tiết niệu. Tôi trước đây chưa bao giờ gặp trường hợp nào như vậy, và tôi đã tìm kiếm trong sách vở phát hiện ra cách điều trị, bệnh nhân hồi phục hoàn toàn.  khi tôi giảng dạy sinh viên về tràn dịch màng phổi. Tôi đã thảo luận về lượng dịch cần thiết để phát hiện được trên chụp X quang, lâm sàng, lượng dịch cần để gây dịch chuyển trung thất. Một trong số sinh viên hỏi lượng dịch chứa tối da trong 1 phổi là bao nhiêu câu trả lời tôi chưa chắc chắn nên tôi hẹn trả lời sau đó. đây là ví dụ cho thấy chúng ta cần phải đọc nhiều sách.

Bài 5 Chuyên khoa

Ngày nay, một số chuyên khoa đặc biệt xuất hiện. Họ làm sinh viên bối rối về vai trò của mình trong chăm sóc y tế. sau khi tốt nghiệp họ không có đủ kiến thức cơ bản mà mỗi bac sĩ phải có. Các chuyên ngành là cành còn cac chuyên khoa sâu là nhánh. Nếu thân cây không đủ mạnh thì nó không thể đỡ, v à 1 ngày c ây sẽ sụp đổ gãy x uố ng mặt đ ấ t. Sách giáo khoa có mô tả về tình trạng các nhà chuyên gia (siêu chuyên gia) tuyên bố rằng cơ quan của họ  bình thường, nhưng bệnh nhân chết. Tôi cũng đưa ra các ví dụ khác, vì bệnh nhân là tổng thể các cơ quan. 1 bác sĩ được đào tạo tốt có thể cứu nhiều mạng người hơn so với chuyên gia hoặc bác sĩ chuyên khoa. Những gì tôi muốn nhấn mạnh là mỗi bác sĩ, trong lĩnh vực mà anh ta làm việc, phải có kiến  thức đầy đủ. Như tôi đã thảo luận trước đây, bởi vì sinh viên chỉ quan tâm tới chuyên khoa mình theo nên họ không quan tâm tới việc họ phải có đầy đủ những kiến thức gì. Các bác sĩ ngày nay hay nói những điều to tát nhưng những điều nho nhỏ họ lại chẳng hiểu gì. họ nghĩ đến những can thiệp hàng nghìn USD nhưng không biết rằng nó có thể xử trí với chỉ vài trăm  rupi.

Một sinh viên muốn trở thành một bác sĩ nên có một số kiến thức về sản khoa. bạn phải đánh giá được thời kỳ mang thai, bắt đầu chuyển dạ, tầm quan trọng của APH (xuất huyết trước sinh) , đánh giá chiều cao tử cung…

Tôi nhớ một sự cố – một giáo sư về quê bằng ô tô cùng gia đình. Bản thân ông ta đang lái xe. Trên đường đi bị tai nạn. Chiếc xe rơi xuống hố. Người dân địa phương tập trung và đưa tất cả các nạn nhân đến trung tâm y tếgần đó (PHC). Bác sĩ phát hiện ra vợ của giáo sư chấn thương nặng kèm gãy xương chi. Con gái không bị thương tích bên ngoài nhưng bị sốc. Bác sĩ nghĩ cô có thể bị tổn thương bên trong. Giáo sư bị ngất và sốc. Bác sĩ đã hồi sức và đưa đến bệnh viên cao hơn cách đó 40 km. Con gái bị vỡ lách. Bác sĩ đã bị mất máu quá nhiều do chấn thương bề mặt cũng như bị chấn thương ở đầu. Tất cả đều hồi phục. Không nghi ngờ gì nữa, các bác sĩ phẫu thuật cuối cùng đã cứu sống được một người, nhưng bác sĩ trung tâm y tế đã cứu cả 3 mạng người nhờ đánh giá và xử trí đúng với bệnh nhân nguy cơ cao.  Vì vậy, gia đình có thể biết ơn bác sĩ phẫu thuật nhưng người cứu họ chính là bác sĩ của trung tâm y tế.

Bài 6 Gía trị những yếu tố không liên quan lâm sàng

Thực sự y học lâm sàng (đối tượng lâm sàng) là chỉ mang tính tương đối Vì- (1) Với các đặc điểm lâm sàng tương tự chẩn đoán có thể khác nhau ở thời gian và địa điểm khác nhau, (2) điều trị cùng một loại thuốc cho cùng 1bệnh có thể cho kết quả khác nhau, (3) đáp ứng với một loại thuốc cụ thể có thể khác nhau đáng kể. Nếu y học lâm sàng là khoa học tuyệt đối, những khác biệt này sẽ không thể gặp. Tuy nhiên, giải phẫu học, sinh lý học và hóa sinh lại mang tính tuyệt đối vì chúng giống nhau ở khắp mọi nơi. Giải phẫu của cơ xương giống nhau ở Mỹ, Ấn Độ hoặc Nhật Bản. Chu trình Krebs cũng giống nhau ở mọi nơi. Sinh lý học của chu kỳ tim cũng giống nhau ở mọi cơ thể. Vì vậy, tất cả các ngành khác của y học phải được nghiên cứu trên nền tảng của kiến   thức về những đối tượng phi lâm sàng này. Bệnh học giúp hiểu rõ các triệu chứng và dấu hiệu của các bệnh khác nhau cũng như cách diễn giải các trường hợp. Kiến thức về dược lý học và vi sinh học giúp chúng ta đưa ra đơn thuốc thích hợp. yêu cầu quan trọng nhất của các đối tượng phi lâm sàng là trong lĩnh vực nghiên cứu, nó giúp chúng ta cập nhật tiến bộ của tri thức.

Tôi nói với các sinh viên y khoa không nên / không bao giờ nên quên các môn học phi lâm sàng sau khi học xong chúng. có thể không cần trong thực hành hàng ngày nhưng có kiến thức cơ bản là điều vô cùng cần thiết

Bài 7 Sự cần biết  cái mới và cập nhật

Kiến thức trong hầu hết các lĩnh vực khoa học đang thay đổi, cũng như trong lĩnh vực y tế. Vì vậy, tất cả các sinh viên y khoa và bác sĩ nên cố gắng cập nhật những kiến   thức mới nhất. Những sách này được chỉnh sửa trong vài năm một lần. nên bạn có thể có được kiến   thức mới từ những cuốn sách mới nhất. Kiến thức mới nhất cũng có thể thu được từ các tạp chí và các trang web. Nhưng kiến   thức cũ không phải lúc nào cũng vô dụng. Trên thực tế, các kiến   thức này (đặc biệt liên quan đến chẩn đoán) rất hữu ích ở những nước kém phát triển. Đây là những phương pháp lâm sàng. Hầu hết các cuốn sách ngày nay nhấn mạnh vai trò cận lâm sàng và ít nhấn mạnh vào đánh giá lâm sàng. Tuy nhiên, sinh viên nên nhớ rằng các phương pháp lâm sàng là phương pháp rẻ nhất để chẩn đoán và có thể thực hiện ở bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào và có thể lặp đi lặp lại nhiều lần  Điều này không có nghĩa là các xét nghiệm cận lâm sàng không có ích. Tôi nhớ một tình huống – một trong những sinh viên của tôi đang làm trong một bệnh viện lớn. Trong một trường hợp suy hô hấp, cậu đã chẩn đoán tràn dịch màng phổi bằng cách áp dụng các phương pháp lâm sàng. Các bác sĩ khác đã kinh ngạc khi biết mình có thể chẩn đoán được nếu không chụp XQ. Tương tự, một trong những người bạn của tôi đang làm việc tại bệnh viện tư, cậu ấy có thể chẩn đoán thủng ổ loét dạ dày bằng khám lâm sàng và cũng được chứng minh là đúng sau này. Điều này làm cho đồng nghiệp của cậu ngạc nhiên rằng làm thế nào cậu có thể biết mà không làm bất kỳ cận lâm sàng nào. Có một số trường hợp khám lâm sàng đã được chứng minh là tốt hơn so với các xét nghiệm tốn kém. Đây là kinh nghiệm cá nhân của tôi mà nhiều điều có thể biết được bằng cách có 1 bệnh sử tốt và khám lâm sàng chi tiết. Vì chúng ta phụ thuộc nhiều vào cận lâm sàng nên chúng ta thường bỏ qua khía cạnh này. Điều này đã dẫn tới các giáo viên không truyền cho sinh viên kinh nghiệm lâm sàng

Về điều trị cũng không nhất thiết phải chạy theo cái mới. ngày nay, xuất hiện ngày càng nhiều tranh cãi. Ví dụ, khi chúng tôi là sinh viên, thuốc lợi tiểu được coi là những loại thuốc đầu tiên trong việc điều trị tăng huyết áp. Khi những loại thuốc mới xuất hiện, tranh cãi đã xảy ra, nhưng JNC-VIII một lần nữa nói rằng các thuốc lợi tiểu thiazide là thành phần chủ yếu trong điều trị tăng huyết áp. Vì vậy, những gì được coi là đã lỗi thời trở thành kiến thức mới nhất. Có rất nhiều ví dụ khác nữa. Vì vậy, về điều trị bằng thuốc cần biết các loại thuốc mới nhất nhưng nếu bác sĩ đạt được kết quả mong muốn bằng các loại thuốc cũ thì không cần thay đổi thuốc mới nếu thuốc cũ không có tác dụng phụ. Vì vậy, sinh viên nên cố gắng tìm hiểu về cái cũ và mới, họ nên cân nhắc lợi ích của cái mới với cái cũ, cho dù nó có liên quan đến chẩn đoán hay điều trị.

Bài 8 Nên làm gì và tại sao phải làm?

Có một tuyên bố rằng nếu bạn biết phải làm gì, bạn có thể tiết kiệm được nhiều điều trong cuộc sống hơn là biết tại sao phải làm. Ý nghĩa của điều này là, trong xử trí các trường hợp hàng ngày, nó là đủ để biết phải làm gì. nhiều người có kinh nghiệm nhưng không được đào tạo về việc cần làm, họ sẽ không thể trở thành người dạy tại sao phải làm vậy được. Bằng cách biết tại sao phải làm, người ta làm công việc một cách tự tin. Biết được lý do tại sao phải làm cũng sẽ giúp đỡ trong các tình huống khi mọi thứ không đi theo cách mình mong muốn. Ví dụ-chúng tôi muốn làm điều gì đó nhưng những điều cần thiết không có sẵn, sau đó chúng tôi có thể tìm ra các phương tiện thay thế để làm tương tự nếu chúng ta biết tại sao.  Nếu chúng ta biết tại sao một bệnh xảy ra, chúng ta có thể thực hiện các biện pháp để ngăn ngừa, nếu chúng ta biết tại sao một loại thuốc cụ thể có hiệu quả trong một tình huống nhất định, chúng ta có thể thử các loại thuốc khác có các đặc tính tương tự. Vì vậy, như những người đàn ông của khoa học, chúng ta phải biết phải làm gì trong một tình huống nhất định và cũng nên biết tại sao lại phải làm như vậy..

Bài 9 Trình bày case bệnh tại giường

Mỗi bác sĩ trẻ nên biết cách trình bày case bệnh tại giường trước 1 bác sĩ có kinh nghiệm. điều này sẽ phát triển thói quen trình bày thông tin trong thời gian ngắn. Điều này bao gồm than phiền, 1 phần bệnh sử liên quan, thăm khám và chẩn đoán sơ bộ. cũng nên nhấn mạnh những điểm có thể ưu tiên trong chẩn đoán Anh ta nên lên kế hoạch tiếp cận và làm thế nào sử dụng chúng trong việc xác định chẩn đoán cuối cùng. Anh ta cũng nên lên kế hoạch điều trị bệnh nhân và đánh giá đáp ứng điều trị của bệnh nhân với điều trị cụ thể. Nếu cậu tiếp tục phương pháp này làm việc trong vòng một vài năm cậu có thể độc lập đối phó với bất kỳ tình huống nào. Người có kinh nghiệm thay vì tìm lỗi của bác sĩ trẻ, nên khuyến khích anh ta tiến bộ và sửa chữa cho anh ta đúng thời điểm. thông tin được trình bày vào những ngày tiếp theo khác với thông tin được trình bày trong ngày đầu tiên. Trong những ngày này, anh nên đề cập đến những phàn nàn mới của bệnh nhân nếu có, bất kỳ sự thay đổi nào trong những triệu chứng cũ hoặc xuất hiện triệu chứng mới, đáp ứng với điều trị hoặc tiến triển các biến chứng của điều trị. Đây có thể coi là cuộc họp ngắn. Nếu anh ta tiết lộ một số điểm mới trong bệnh sử hoặc tìm ra hướng có thể thay đổi cách điều trị, nên để cho anh ta cảm thấy tự do để nói, ngay cả khi anh ta đã bỏ sót chúng vào ngày đầu tiên

Bài 10 Duy trì thói quen lưu giữ hồ sơ

Lưu giữ hồ sơ là một phần thiết yếu của giáo dục ngành y và chăm sóc bệnh nhân. Tôi đã gặp nhiều bác sĩ gặp vấn đề do ghi chép dữ liệu của bệnh nhân không đầy đủ và không đúng cách. Lý do tại sao hồ sơ được lưu giữ đúng là:

1. Bất cứ lúc nào trong việc điều trị bệnh nhân có thể phải so sánh dữ liệu trước đó với hiện tại. Điều này có thể được yêu cầu để biết liệu bệnh nhân đang cải thiện hay xấu đi, hoặc cần để xem xét lại chẩn đoán nếu bệnh nhân không đáp ứng điều trị. Không thể nhớ tất cả thông tin của bệnh nhân. Nếu dữ liệu ban đầu không được ghi lại chính xác thì câu hỏi về so sánh dữ liệu sau này sẽ không xảy ra.

2.   Trong thời đại pháp luật bảo vệ người tiêu dùng nếu bệnh nhân có hồ sơ chống lại bác sĩ, điều duy nhất giúp bác sĩ thông tin ghi trong các giấy tờ điều trị. Bác sĩ không thể biết được những gì đã được thực hiện vào một thời điểm cụ thể và tại sao nó đã được thực hiện trừ khi nó được ghi lại. Thậm chí nếu bạn đã làm một điều gì đó với thiện ý, nó sẽ không thể chứng minh. Giao tiếp bằng lời sẽ không có tầm quan trọng nào. Vì vậy, ghi chép ca bệnh phù hợp là yêu cầu trong mỗi trường hợp dù ở trong bệnh viện hoặc phòng khám tư nhân.

3.   Chi tiết hồ sơ bệnh án sẽ giúp theo dõi bệnh tật có thể phát triển sau này.

4.   Nếu lưu giữ hồ sơ đúng cách, bạn có thể kiểm tra và tiến hành nghiên cứu bất cứ lúc nào.

5.   Đôi khi bác sĩ điều trị nghỉ trực và bác sĩ khác điều trị thay. Nếu giấy tờ điều trị bệnh nhân  được ghi lại đúng cách thì bác sĩ điều trị thay có thể hiểu trường hợp và tiếp tục điều trị.

Vì vậy, mỗi bác sĩ nên giữ lại các chi tiết của hồ sơ bệnh án. Tôi hướng dẫn các bác sĩ trẻ phải ghi lại thông tin của bệnh nhân bên trái của đầu giường và các bước thực hiện (điều trị) ở bên phải. Nếu bạn làm điều gì đó mà không đề cập đến lý do tại sao bạn đã làm vậy, nó sẽ không thể giải thích cho bác sĩ hướng dẫn của bạn. Ví dụ, nếu bạn tiêm phenytoin cho bệnh nhân, bạn nên đề cập đến bệnh nhân có co giật.

Bài 11 Ghi chú hàng ngày

Mỗi bệnh nhân nằm viện, các bác sỹ phải ghi lại tiến triển hàng ngày trong điều trị. Đây được gọi là nhật ký hàng ngày. Tôi đã thấy trong một số trường hợp chúng không được viết đúng. Những điểm sau đây phải được đề cập trong trong nhật ký hàng ngày. Đó là:

•    Mọi than phiền mới. Bệnh nhân có thể có nhiều vấn đề. trong điều trị có thể xuất hiện các rối loạn mới. có thể do thuốc hoặc do bênh, những điều này phải nhắc đến ngay từ đầu

•    than phiền cũ, cải thiện hay tiến triển.

•    Các hoạt động sinh lý hằng ngày, thức ăn, bàng quang, tiêu hóa, ngủ.

•    Các chỉ số quan trọng: Huyết áp, nhiệt độ, mạch, nhịp thở.

•    Các chỉ số khác theo bệnh nhân: tình trạng thần kinh, mức độ tỉnh táo ở bệnh nhân vô thức…

Bài 12 Trả lời theo nhóm

Đó là một kinh nghiệm chung khi một câu hỏi được hỏi cho sinh viên của 1 lớp, họ có xu hướng đưa ra câu trả lời như nhau. Nhưng câu trả lời của nhóm này không có giá trị. Vì vậy, câu hỏi nên được yêu cầu cho một cá nhân sinh viên và nếu người đó không thể trả lời, cùng một câu hỏi có thể được yêu cầu cho người khác. Bằng cách từng người trả lời, sinh viên sẽ phát triển thói quen trả lời, sự ngần ngại sẽ giảm và sinh viên có cơ hội thể hiện. Bên cạnh đó họ sẽ không cùng chữa trị cho bệnh nhân trong tương lai, vì vậy họ sẽ sinh ra chán nản khi trả lời cùng nhau. Bất cứ khi nào sinh viên trả lời, họ nên cố gắng trả lời đầy đủ, đầy đủ và rõ ràng nhất có thể. Điều này sẽ cải thiện khả năng diễn đạt và giải thích của anh ta sau này.

Bài 13 Khám theo nhóm

Đây cũng là một tình trạng phổ biến của sinh viên đại học , họ có khuynh hướng khám bệnh theo nhóm. Điều này không nên cho phép bởi vì điều này sẽ không giúp anh ta khả năng thu thập bệnh sử tốt và khả năng khám bệnh nhân một cách độc lập. Bệnh nhân sẽ không cảm thấy thoải mái trước quá nhiều người và họ sẽ không cho bạn thông tin chi tiết của bệnh sử. Đôi khi khám theo nhóm có thể gây hại cho bệnh nhân. Ví dụ, nếu có quá nhiều sinh viên cố gắng nghe phổi và đề nghị bệnh nhân hít sâu vào (như được dạy), sau đó bệnh nhân có thể cảm thấy chóng mặt hoặc có thể bị ngất đi vì giảm C02 dẫn tới co thắt mạch não  và giảm tưới máu não. Tương tự như vậy nếu một bệnh nhân đang đau mà nhiều sinh viên khám sẽ làm bệnh nhân đau hơn và thậm chí không cho khám. Do đó, sinh viên nên làm cho bệnh nhân thoải mái nếu muốn được thực hành trên bệnh nhân

Bài 14 Học cách lắng nghe

Tôi đã thấy các sinh viên cố gắng hỏi để biết câu trả lời ctừ bạn bè, bác sĩ hoặc giáo viên của họ. Không có hại khi làm điều đó. Nhưng đặc thù là những người này thường không biết câu trả lời chính xác cho câu trả lời nên bằng cách phỏng đoán, bằng cách ngoại suy kiến  thức nhất định hoặc đưa ra câu trả lời chung chung. Không ai có thể biết mọi thứ. Vì vậy, nếu ai đó không biết câu trả lời nên thẳng thắn nói rằng anh ta không biết, không có gì đáng xấu hổ về nó. Tương tự vậy, các sinh viên đang đặt câu hỏi không nên chấp nhận những câu trả lời này mà không cần xác nhận từ sách. Bằng cách làm như vậy anh ta sẽ không chỉ biết câu trả lời chính xác, mà còn có thể biết thêm về nó và các chủ đề liên quan, ngoài ra anh ta sẽ có thể biết nguồn để tham khảo trong tương lai. Vì vậy, cá nhân tôi không khuyến khích việc hỏi và lắng nghe từ người khác. Tuy nhiên, bạn nên lắng nghe những người có chuyên môn sâu trong lĩnh vực nào đó. Thậm chí nếu câu trả lời khác với sách bạn tìm hiểu, bạn có thể nhờ họ đưa ra lý do vì sao có sự khác nhau đó

Bài 15 Câu hỏi nhiều lựa chọn

Ngày nay nhiều bác sĩ đặc biệt là sinh viên hay đọc 1 số sách về câu hỏi trắc nghiệm (MCQ) và chuẩn bị cho các kỳ thi tuyển sinh sau đại học. Nó có thể giúp họ thi qua nhưng số kiến thức này không giúp họ điều trị bệnh nhân. Biết câu trả lời cho một nghìn MCQ có thể không đủ để điều trị một bệnh nhân duy nhất. bạn nên biết rằng khi bạn khám bệnh nhân, họ sẽ không cho ban biết bạn có thể lựa chọn những gì trong số những triệu chứng họ đang bị. Vì vậy, chúng không giúp gì cho ban trong điều trị bệnh nhân cụ thể

Bài 16 Luận văn

Viết luận văn là một phần thiết yếu của nghiên cứu sau đại học. Nhưng nhiều sinh viên sau đại học và không may một số giáo viên cảm thấy rằng nó không bắt buộc. Nhiều người coi nó quá nhẹ. Nhưng họ nên biết rằng luận văn được yêu cầu vì nó dạy phương pháp luận của một nghiên cứu y khoa. Vì vậy, mỗi bác sĩ với bằng sau đại học nên biết làm thế nào để làm một nghiên cứu. Bằng cách đó họ cũng có thể đóng góp vào sự phát triển của kiến thức mới. Nghiên cứu khác với quan sát đơn giản rồi mô tả. Do đó luận văn là một phần thiết yếu của nghiên cứu sau đại học. Trên thực tế, mỗi nghiên cứu sinh nên học không chỉ để làm một công trình nghiên cứu mà còn để xuất bản tác phẩm của mình trong các tạp chí khác nhau. Ngoài ra, bạn cũng nên biết cách viết bài báo và báo cáo trường hợp. làm luận văn cũng giúp chúng ta biết được phương pháp thống kê sinh học.

Bài 17 Hỏi thi

Sinh viên y khoa đôi khi phải thi vấn đáp. nên biết rằng thời gian thi vấn đáp thường ngắn hơn nhiều so với thi viết. Và bạn phải trả lời ngắn gọn và thực tế hơn bình thường. Nếu bạn bắt đầu kể những điều trên lý thuyết hoặc ít gặp, cán bộ hỏi thi sẽ có suy nghĩ rằng thực tế bạn rất ít thực hành lâm sàng bên giường bệnh. Ví dụ, nếu bạn được yêu cầu trả lời nguyên nhân gây ra bệnh huyết khối, bạn nên trả lời nguyên nhân hay gặp. ví dụ như Lao, hẹp van hai lá, ung thư phế quản, viêm phế quản, viêm phế quản mạn tính là một trong những nguyên nhân bạn nên trả lời. Nhưng nếu bạn trả lời hội chứng Goodpasture, các dị dạng động tĩnh mạch phổi, vv, cán bộ hỏi thi sẽ nghĩ rằng cậu bé này đã không chịu học lâm sàng. Nguyên nhân phổ biến gây tử vong ở Ấn Độ có thể là lao phổi nhưng có thể là viêm phế quản mạn tính ở các nước phương Tây. Tương tự, nguyên nhân phổ biến nhất gây suy tim ở Ấn Độ có thể là bệnh tim ở người thấp khớp nhưng ở Mỹ nó có thể là bệnh động mạch vành. Vì vậy, bạn nên biết nơi bạn được hỏi thi và ai là người hỏi thi bạn

Đôi khi sinh viên trả lời trước khi cán bộ hỏi thi hoàn thành câu hỏi. điều này sẽ gây ấn tượng rằng sinh viên này có câu hỏi, hoặc đã biết câu hỏi từ trước Vì vậy, bạn sẽ cho người ta ấn tượng không tốt. Thay vào đó, nếu bạn trả lời chậm và đều đặn như thể bạn nhớ lại và trả lời, sẽ tạo ấn tượng tốt hơn.

Đôi khi cuộc vấn đáp bắt đầu bằng xử trí tình huống cấp cứu. Ví dụ, “báo cáo tình huống cấp cứu về sản khoa bạn đã tham gia trong kỳ đi lâm sàng của bạn.” Vì vậy, bạn phải sẵn sàng đối mặt với những câu hỏi như vậy.

Bài 18 Hỏi thi và đánh trượt

Dù đánh trượt có thể là 1 phần của kỳ thi, nhưng về cả 2 phía giáo viên và sinh viên đều là sự thất bại. sinh viên bị áp lực mình phải vượt qua. nhiều giáo viên sẵn sàng cho sinh viên qua kỳ thì dù họ phải đánh trượt. cha mẹ nào cũng mong con mình giỏi giang thành đạt.

Giữa những người hạnh phúc đó, người duy nhất không may mắn là người bệnh. Và bệnh nhân có thể là cha, mẹ, thày, cô hoặc bất cứ ai có thể. Nếu các bác sỹ chuyên môn kém được giải phóng ra xã hội, mọi người phải đối mặt với những hậu quả của nó. Nhiều bệnh nhân sẽ tốn rất nhiều tiền không cần thiết, bệnh sẽ được chẩn đoán muộn và tỷ lệ tử vong ngày càng nhiều . Tôi biết một số ví dụ như vậy. Thậm chí có những bác sĩ không thể điều trị được cho cha mẹ họ. Vì vậy, vì lợi ích tốt hơn của xã hội, những sinh viên kém nên đánh trượt khi cần thiết. Đôi khi sinh viên lập luận rằng nếu họ trượt sẽ ảnh hưởng tới kết quả của họ. tôi cảm thấy đáng, 1 người học hành chăm chỉ thì tiêu chuẩn của anh ta cũng sẽ tốt hơn. Ngay cả khi lần thi vẫn trượt, bạn phải biết rằng hình phạt thích đáng cho tội phạm sẽ ngăn bọn tội phạm phát triển trong xã hội. Nếu ngày càng nhiều tội phạm được phép trốn chạy thì càng nhiều người tốt sẽ trở thành tội phạm.

 Đôi khi có một số sinh viên giỏi lại trượt, do không may mắn hoặc tiếp cận sai với một trường hợp cụ thể. Điều này không ảnh hưởng gì đến họ cả. nếu sinh viên thực ự giỏi, anh ta sẽ có thể thành công trong sự nghiệp của mình. Tôi biết một số sinh viên đã thành đạt dù họ bị trượt tốt nghiệp hoặc bảo vệ sau đại học. Khoa học  trong y khoa là một nhánh chuyên về điều trị bệnh nhân. Nếu anh điều trị tốt, người ta không quan tâm trước đây anh có thi trượt hay không. Trong thực tế để phát triển nền y học thì khoa học trong y học không nhất thiết phải rực rỡ. Đó là lý do tại sao tôi nói khoa học y khoa là dành cho những sinh viên xoàng thôi. Sự tham gia của bệnh nhân, kiến thức khoa học, khả năng sử dụng kiến  thức đó trong thời gian, địa điểm và con người có thể làm cho bạn thành một bác sĩ giỏi (không nhất thiết phải kiếm được nhiều).

Đó là lý do tại sao sinh viên không nên quá lo lắng nếu họ không thi đạt. Trong thực tế, một trong những giáo viên của tôi đã nói “nếu bạn đã làm việc ba năm với bệnh nhân, bạn sẽ không bao giờ thất bại trong cuộc việc của bạn ngay cả khi bạn từng thi trượt.” Mỗi bệnh nhân là một kỳ thi.vì vậy khi bạn trả lời câu hỏi và giải quyết vấn đề của mình, bạn đã thành công trong 1 kỳ thi.

Bài 19 Dạy ở bệnh viên

Giảng dạy ở bệnh viện là điều rất quan trọng. sinh viên sau này sẽ là bác sĩ thưc hành. sinh viên hôm nay- bác sĩ ngày mai. chất lượng đào tạo tốt sẽ làm các bác sĩ phục vụ cho bệnh nhân tốt hơn sau này. Nếu chất lượng đào tạo không tốt, anh ta sẽ không thể điều trị hiệu quả cho bệnh nhân được. Để học hiệu quả, sinh viên cần tiếp xúc với nhiều bệnh nhân, nhiều mặt bệnh và tích tham gia vào chăm sóc và điều trị bệnh nhân sinh viên cũng nên tiếp xúc với với các loại dụng cụ / thiết bị được sử dụng để chẩn đoán hoặc điều trị. Tất cả những điều này có nghĩa là bệnh viện có các phương tiện tốt sẽ giảng dạy cho sinh viên tốt hơn. Các bệnh nhân đang điều trị nên cho sinh viên khám và chăm sóc cho họ. bằng cách đó họ đang làm lợi cho xã hội vì sinh viên sẽ là bác sĩ điều trị cho họ trong tương lai. Họ có thể gặp chút rắc rối khi cho sinh viên khám và chăm sóc nhưng họ sẽ mang lại kết quả tốt và con cháu hoặc chính họ trong tương lai sẽ được nhận kết quả tốt sau này khi được những sinh viên này điều trị. Mỗi bệnh nhân đến bệnh viện ban đầu sẽ được sinh viên/bác sĩ khám và đánh giá để cải thiện khả năng quan sát và tư duy. các sinh viên nên làm bệnh nhân cảm thấy thoải mái khi khám cho họ. Bất kể vấn đề gì sinh viên gặp khi bệnh nhân trình bày các vấn đề của họ, phải báo bác sĩ và tham khảo thêm sách vở gần đây.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn