SÓNG Q HOẠI TỬ | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa SÓNG Q HOẠI TỬ | Y học online, giới thiệu sách Group cập nhật kiến thức y khoa

Bs Phạm Ngọc Minh

SÓNG Q HOẠI TỬ



Người đàn ông 74 tuổi bị bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ nặng;

Bệnh nhân này có ECG dạng thiếu máu cơ tim cục bộ nặng kèm nhồi máu lớn trước đó (thành dưới và thành trước) kèm EF thấp (<25%).

Sóng Q tương ứng với sóng âm đầu tiên trước sóng dương của phức bộ QRS. Nó được coi là sóng Q khi nó rộng và / hoặc sâu, là sóng q khi nó hẹp và nông, qR khi sóng Q thấp hơn sóng R và Qr trong trường hợp ngược lại . Trong hội chứng vành cấp tính, sóng Q tương ứng với có hoại tử cơ tim do thiếu máu cơ tim kéo dài làm mất hoạt động điện ở vùng cơ tim lớn.  Trong trường hợp tắc mạch vành, thời gian xuất hiện sóng Q thay đổi tùy bệnh nhân (trung bình sau 6-9h, nhưng có thể sớm sau 2h, thậm chí sau vài phút) tùy vào có hay không vòng nối tưới máu. Phát hiện sớm sóng Q trong giai đoạn hội chứng vành cấp không nên coi nó là một dấu hiệu cho thấy đã quá muộn để can thiệp mạch, sóng Q có thể tự thoái triển nếu tưới máu kịp thời. Tuy nhiên, sự có mặt của sóng Q là một yếu tố tiên lượng xấu vì nó cho thấy một vùng nhồi máu lớn kèm nguy cơ tử vong cao

Nhiều cách giải thích khác nhau đã được đề xuất để giải thích sự xuất hiện của sóng Q sau nhồi máu cơ tim. Sóng Q hoại tử do quá trình khử cực của vùng cơ tim khỏe mạnh và sự không có hoạt động điện ở vùng hoại tử. Vùng hoại tử giống như vùng “cửa sổ” ghi lại vector khử cực bình thường ở vùng đối diện từ nội tâm mạc ra ngoại tâm mạc,  đi ra khỏi vùng điện cực thăm dò. Do đó, dạng QR hay QS tương ứng với sóng khử cực dương xuất hiện ở vùng cơ tim đối diện. Ngược lại sóng R bất thường có thể thấy khi điện cực nằm đối diện với vùng nhồi máu

Do đó chúng ta có thể thấy:

cái gọi là hình ảnh trung tâm, với dạng QS ở các điện cực  vùng hoại tử, dạng QR ở rìa vùng nhồi máu, biên độ sóng Q giảm khi càng cách xa vùng hoại tử

hình ảnh gián tiếp hoặc đối xứng ghi lại bởi các điện cực nằm đối diện với vùng nhồi máu có sóng R biên độ và độ rộng bất thường. Việc mất các vector vùng nhồi máu làm thay đổi trạng thái cân bằng lực điện giữa các thành tâm thất, làm tăng biên độ vector ban đầu ở thành đối diện (tăng biên độ sóng R). Dạng này hay gặp trong nhồi máu thành sau có biên độ sóng R tăng lên ở V1-V2;

Sóng Q nổi bật có thể 1) sóng Q sinh lý: Sóng Q hẹp (<30 ms) và nông (<1/4 của sóng R tiếp theo) ở các chuyển đạo bên tương ứng với khử cực vùng vách đầu tiên từ trái qua phải; 2) vị trí: 1 sóng Q đơn độc ở DIII và mất khi hít vào sâu có thể gặp trong trường hợp tim nằm ngang ở bệnh nhân béo phì, ở tư thế ngồi hoặc ở phụ nữ mang thai; 3) bệnh lý: sóng Q có thể tương ứng với di chứng nhưng cũng có thể gặp trong các bệnh khác nhau.

Sóng Q rộng và sâu trong ít nhất hai chuyển đạo liền kề gợi ý nhồi máu đang tiến triển hoặc di tích của hoại tử, đặc biệt khi nó liên quan tới thay đổi đoạn ST hoặc T đảo do thiếu máu cục bộ. Do đó, sóng Q hoại tử được phân biệt với sóng Q sinh lý bằng cách: a) thời gian dài hơn (> 40 ms); b) độ sâu khi nhồi máu với sóng Q lớn hơn 5 mm (nếu là dạng QR) hoặc sóng Q vượt quá 25% biên độ sóng R (nếu là dạng qR); biên độ tối đa, sóng R biến mất (dạng QS); c) dạng có khía trên nhánh xuống ban đầu “downstroke”; d) sóng Q bệnh lý được củng cố khi có tương xứng về mặt giải phẫu cấp máu vành và có mặt trên một số chuyển đạo (I, aVL, V5, V6; II, III, aVF; V4 đến V6); e) sự có mặt của rối loạn tái cực (tổn thương hiện tại và / hoặc sóng T âm) làm tăng khả năng sóng Q tương ứng với di chứng của hoại tử.

Sóng Q không sinh lý có thể được quan sát thấy trong các bệnh khác:

  1. trong bệnh cơ tim phì đại, người ta thường quan sát sóng Q hẹp, thường sâu, liên quan đến sự gia tăng biên độ sóng R (Sokolow dương) và sóng T có thể dương hoặc âm và đạt đỉnh (bệnh cơ tim phì đại mỏm);
  2. với sự có mặt của hội chứng tiền kích thích (hội chứng Wolff-Parkinson-White), sóng delta có thể, mô phỏng sóng Q hoại tử;
  3. trong LBBB, dạng QS thường gặp ở V1-V2
  4. trong block bó nhánh, sóng Q có thể thấy ở I, aVL (lafb) hoặc ở D III (lpfb);
  5. 1 sóng Q hẹp trước 1 sóng R lớn ở V1, V2 là dấu hiệu của phì đại thất phải;
  6. trong giai đoạn cấp tính của thuyên tắc phổi, có thể thấy dạng S1Q3 (sóng Q ở D III) thoáng qua;
  7. trong tràn khí màng phổi trái, tim có thể được đẩy sang phải mà không có tiến triển sóng R chuyển đạo trước, bắt chước nhồi máu thành bên  
  8. trong một số bệnh cơ tim thâm nhiễm như amyloidosis, có sóng Q kèm R kém tiển triển cho thấy sự có mặt của bệnh cơ tim tiến triển.

Trong điện tâm đồ bình thường, chúng ta có thể thấy dạng rS ở V1 tiến triển sóng R tăng dần từ V1-V6 và giảm biên độ sóng S. Không có định nghĩa chính xác về “R chậm tiến triển” dù chậm tiến triển sóng R ở chuyển đạo trước tim (r nhỏ xíu ở V4) thường gợi ý di chứng trước đó của hoại tử cơ tim. R chậm tiến triển có thể gặp khi tim bên phải, RBBB, khí phế thũng, bệnh cơ tim giãn, hoặc thâm nhiễm cũng như có mặt đường phụ  

TÓM LẠI

Sóng Q rộng và sâu trong ít nhất hai chuyển đạo liền kề gợi ý nhồi máu tiến triển hoặc di chứng của hoại tử, đặc biệt nếu kèm thay đổi đoạn ST và T đảo do thiếu máu cục bộ.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net