» Nhật ký bác sĩ ngoại khoa P7 – CẢM GIÁC BUỒN NÔN Nhật ký bác sĩ ngoại khoa P7 – CẢM GIÁC BUỒN NÔN – Y học online

Nhật ký bác sĩ ngoại khoa

Nhật ký bác sĩ ngoại khoa P7 – CẢM GIÁC BUỒN NÔN



Ban đầu triệu chứng này thường không làm chúng ta lo lắng. Amy Fitzpatrick đang mang thai cặp song sinh tuần thứ 8 được phát hiện nhờ siêu âm. cũng như chị gái và bạn bè cô đã trải qua, cô hiểu nó chỉ là 1 biểu hiện trong quá trình mang thai. Fitzpatrick 29 tuổi, cao, tóc đen dài, làn da nhợt nhạt và có 1 má núm đồng tiền. Cô sống ở Manhattan cùng chồng, cô là nhà tư vấn quản lý cho hệ thống y tế North Shore.

 Đó là một buổi sáng, cô đang cần vượt qua đoạn đường này thật nhanh. Sau đó, khi cô bước ra khỏi xe, cô cảm giác nóng rát vùng bụng và đầu óc khó chịu.
Các triệu chứng này là giai đoạn tiền triệu của nôn.” Tăng tiết nước bọt, đồng tử giãn và nhịp tim bắt đầu tăng”.

Các mao mạch dưới da co nhỏ, da xanh tái. Mọi người thường bị vã mồ hôi lạnh, mệt mỏi và buồn ngủ trong vài phút. Khả năng chú ý, phản xạ và độ tập trung giảm dần. Trong khi các triệu chứng trên giảm dần thì các hoạt động điện bất thường của dạ dày vẫn diễn ra. Các nhu động do co thắt thực quản, xuất phát từ phần trên của dạ dày vượt qua cơ hoành vào đến thực quản đoạn ngực, nó tạo thành 1 phễu từ dạ dày đến thực quản.

Sau đó, khi có sóng nhu động lớn đưa ngược lên, các chất trong ruột non (đoạn trên) được đưa ngược vào dạ dày và sau đó bệnh nhân sẽ nôn.

Còn trong đoạn hồi tràng, các co bóp nhịp nhàng sẽ đẩy các chất vào manh tràng.

Fitzpatrick cũng vậy, cô bắt đầu nôn. Sau khi cô nôn, 1 số dịch nôn chảy vào túi nilon, 1 số rớt vào váy áo của cô. Cô đã cố gắng mở mắt và kiểm soát tình hình.

Nôn có 2 giai đoạn.

 Giai đoạn buồn nôn liên quan đến sự phối hợp hoạt động co bóp của cơ bụng, cơ hoành và các cơ hô hấp. Giai đoạn này, bệnh nhân chưa nôn ra gì hết. Giai đoạn sau, tống xuất chất nôn, cơ hoành và bụng trải qua sự co kéo liên tục và hàng loạt, tạo ra áp lực lớn trong dạ dày và gây giãn thực quản, nôn xảy ra giống như khi mở van bình cứu hỏa.


Nôn thường làm cho mọi người cảm thấy tốt hơn, nhưng Fitzpatrick không cảm thấy tốt hơn chút nào. Cô đã ngồi đó, chờ đợi cảm giác này qua đi nhưng thật không may khi cảm giác này vẫn còn ở lại
Cuối cùng cô vẫn nôn, cô quyết định về nhà và nằm nghỉ. Trong những ngày sau đó, cô bắt đầu mất cảm giác ngon miệng và không thể chịu đựng được khi ngửi các mùi nặng.
 Vào lễ Phục Sinh cuối tuần đó, cô cùng chồng và Bob lái xe đến Alexandria Virginia để thăm gia đình. Nhưng cô đã không thể ngồi được trên xe mà cần nằm nghỉ tại ghế sau.

Ở nhà cha mẹ, triệu chứng của cô tiến triển nhanh chóng. Cuối tuần đó, cô đã nôn hết thức ăn hoặc bất kỳ thứ nào khác. Hậu quả là cô đã bị mất nước nặng sau đó.

Thứ hai sau lễ Phục Sinh, cô đến kiểm tra tại bệnh viện và được truyền dịch tĩnh mạch. Cô gặp bác sĩ sản khoa, Bác sĩ này đã trấn an cô rằng triệu chứng buồn nôn và nôn là bình thường trong quá trình mang thai và hướng dẫn 1 số biện pháp phòng ngừa thường dùng: tránh xa các mùi nặng và nước lạnh, cố gắng ăn nhiều bữa với lượng thức ăn ít một bất cứ khi nào có thể, có thể ăn bánh khô và các carbohydrate khác.

Khi triệu chứng của  Fitzpatrick trở về bình thường, các bác sĩ không muốn dùng đến thuốc. Họ nhấn mạnh các triệu chứng nghén của sản phụ thường sẽ hết sau 14 tuần, tối đa sẽ hết sau 16 tuần mang thai.
Fitzpatrick đã được các bác sĩ xác định là bình thường, nhưng cô thấy mình không thể chịu đựng được bất cứ điều gì ngoại trừ việc cắn một miếng bánh hoặc ăn bánh mì nướng. Đến cuối tuần, cô thấy mệt nhiều nên mời một y tá đến nhà cha mẹ cô để theo dõi và truyền dịch tĩnh mạch.


Fitzpatrick không thấy khá hơn chút nào. Ngay cả khi chỉ nằm trên giường xem truyền hình hay tập trung vào một tạp chí cũng làm đầu cô quay cuồng. Trong vài tuần sau đó, cô nôn năm đến sáu lần một ngày.

Cô đã giảm mười hai pound thay vì tăng cân giống như một người phụ nữ  mang thai bình thường. Điều tồi tệ nhất là cảm giác cô đã mất kiểm soát cuộc sống của chính mình.

Mẹ cô đã phải nghỉ việc dạy học để ở nhà chăm sóc cô. Cô cảm thấy mình giống như một đứa trẻ vô dụng.

Buồn nôn, biểu hiện kỳ lạ và đáng sợ này là gì?

Chủ đề này ít được chú ý trong y tế, tuy nhiên, bạn có biết: sau đau đớn thì buồn nôn là triệu chứng hay gặp nhất khiến bệnh nhân khó chịu và đi khám, tham khảo ý kiến bác sĩ.

Buồn nôn và nôn cũng là một tác dụng phụ điển hình của thuốc. Trong số các bệnh nhân phẫu thuật, nôn mửa sau khi gây mê rất hay gặp. Phần lớn các bệnh nhân hóa trị bị buồn nôn và họ luôn xếp nó là một triệu chứng tồi tệ nhất của quá trình điều trị.

Từ 60%  đến 85% phụ nữ mang thai trải qua giai đoạn nghén  

 Khoảng năm trong một ngàn phụ nữ mang thai, tình trạng này rất nghiêm trọng như gây sụt cân, tình trạng này gọi là “chứng nôn nghén nặng khi mang thai – hyperemesis of pregnancy .”

Và, tất nhiên, say tàu xe đã ảnh hưởng hầu như tất cả chúng ta tại một thời điểm nào đó trong cuộc sống. Say sóng đã được quân sự quan tâm lớn, nó có niên đại từ thời Hy Lạp cổ đại. (Từ buồn nôn từ xuất phát từ tiếng Hy Lạp – for ship.)

Điểm nổi bật nhất của buồn nôn là nó rất mãnh liệt  (Cicero tuyên bố “thà bị giết chết một lần nữa còn hơn là phải chịu sự tra tấn của say sóng”).

Sau khi sinh xong, người phụ nữ sẽ có kinh nghiệm về giai đoạn nghén, và buồn nôn có thể là nguyên nhân khiến 1 số phụ nữ không muốn sinh con lần nữa.

Lợi ích của việc nôn mửa sau khi ăn một cái gì đó có độc hoặc nhiễm độc là rõ ràng: chất độc của nó bị tống ra ngoài và nỗi sợ hãi do buồn nôn sẽ giúp ngăn cản bạn không bao giờ muốn ăn bất cứ thứ gì giống như nó một lần nữa.

Điều này giải thích lý do tại sao thuốc, hóa trị và thuốc gây mê thường gây buồn nôn và nôn mửa: vì đó là những chất độc và cơ thể được cấu tạo để đào thải chúng.

Tại sao những thứ khác gây buồn nôn và ói mửa lại khó giải thích? các nhà khoa học đang bắt đầu thấy một số ý nghĩa của hiện tượng tự nhiên này.

Ví dụ: Bạn nghĩ rằng thai nghén sẽ được tiến hóa, kể từ khi một phôi thai đang phát triển rất cần chất dinh dưỡng.

Trong một bài báo nổi tiếng năm 1992,  nhà sinh vật học tiến hóa Margie Profet cho rằng thai nghén thực sự có vai trò bảo vệ thai nhi. Bà chỉ ra rằng các loại thực phẩm tự nhiên rất an toàn cho người lớn hóa ra thường không an toàn đối với phôi thai.

Tất cả thực vật đều sản xuất độc tố và để có thể ăn, chúng ta đã tiến hóa hệ thống giải độc công phu. Tuy nhiên, những hệ thống này không loại bỏ hoàn toàn hóa chất độc hại và phôi có thể nhạy cảm ngay cả với một lượng nhỏ.

 (Ví dụ, các độc tố trong khoai tây đã được tìm thấy gây ra dị tật thần kinh ở bào thai động vật, thậm chí độc tố ở mức độ  không độc hại cho các mẹ;

Và sự tiêu thụ khoai tây mạnh của Ireland có thể giải thích tỷ lệ cao nhất thế giới về dị tật thần kinh, chẳng hạn như tật nứt đốt sống.)

Profet cho rằng, có thể  thai nghén đã giúp tiến hóa để giảm tiếp xúc của phôi với độc tố tự nhiên. Bà chỉ ra rằng phụ nữ  có thai nghén rất thích thức ăn nhạt mà không nhanh hỏng (như bánh mì và ngũ cốc) và đặc biệt không thích thực phẩm liên quan đến nồng độ cao của các độc tố tự nhiên, chẳng hạn như các loại thực phẩm đắng hoặc cay và sản phẩm động vật không được tươi.

Lý thuyết này cũng giải thích tại sao thai nghén xảy ra chủ yếu trong giai đoạn đầu tiên của quá trình mang thai. Đó là khi phôi phát triển hình thành các cơ quan là lúc nhạy cảm nhất với các chất độc; đồng thời, khi thai nhỏ và nhu cầu calo của nó dễ dàng cung cấp bởi dự trữ chất béo của người mẹ.

Nhìn chung, phụ nữ ốm nghén từ trung bình đến nặng có tỷ lệ sẩy thấp hơn so với phụ nữ có buồn nôn nhẹ hoặc không có gì cả.

Mục đích của say tàu xe khó giải thích hơn.

Năm 1882, nhà tâm lý học Harvard William James quan sát thấy một số người điếc đã miễn dịch với say sóng và kể từ đó rất nhiều nghiên cứu đã được tập trung vào vai trò của hệ thống tiền đình và các thành phần trong tai.

Các nhà khoa học đều tin rằng chuyển động mạnh mẽ sẽ kích thích quá mức tới hệ thống này, sản xuất tín hiệu trong não gây buồn nôn và nôn.

Nhưng cũng như Charles Oman,  M.I.T.  – 1 nhà sinh lý học hàng không vũ trụ đã chỉ ra, lý thuyết này không thể giải thích được nhiều đặc điểm chuyển động của bệnh: tại sao hoạt động như chạy, nhảy, khiêu vũ gần như không bao giờ gây ra nôn hoặc buồn nôn. Tại sao điều khiển xe ô tô, hay các phi công lái máy bay ít nhạy cảm hơn so với hành khách; lý do tại sao bệnh có xu hướng giảm với người có kinh nghiệm.

Oman tìm thấy trong số các tác nhân kích thích thì tác nhân tác động mạnh nhất cho phi hành gia chỉ đơn giản là nhìn lộn ngược thấy một phi hành gia khác đang trôi nổi, có thể tạo ra một bất ngờ, tưởng rằng bạn là một trong những người bị lộn ngược dẫn tới gây buồn nôn.

Các nhà nghiên cứu đã xác định rằng say tàu xe xảy ra khi có một cuộc xung đột giữa các chuyển động theo kinh nghiệm và các chuyển động thực tế.


Buồn nôn xảy ra khi não tiếp nhận đầu vào cảm giác bất ngờ đối với một người mới đi tàu thuyền, nói, cảm thấy mặt đất dưới chân anh ta lên xuống, hoặc một người nào đó đội một chiếc mũ bảo hiểm như đang đi thực sự hoặc nhìn thấy chính mình di chuyển trong khi cơ thể của họ vẫn đang đứng yên.

Nhưng tại sao chuyển động không quen thuộc làm cho chúng ta cảm thấy buồn nôn? Một giải thích dẫn đến khái niệm buồn nôn và ói mửa như một cái gì đó để bảo vệ chống lại các độc tố.

Phần lớn những cảm giác tương tự có thể xảy ra với việc uống nhiều chất độc gây ảo giác, tuy nhiên, như bất cứ ai đã uống quá nhiều rượu có thể chứng thực.

Vì vậy, buồn nôn và ói mửa do say tàu xe có thể là một sản phẩm của hệ thống cơ thể chúng ta đào thải chất độc và tránh chúng. Tuy nhiên giả thuyết này không được dùng để giải thich cho tình trạng nghén.

Và chúng tôi vẫn không có một lời giải thích thuyết phục tại sao lo lắng hoặc khi nhìn thấy máu lại làm người ta nôn mửa.

Triệu chứng nôn như Amy Fitzpatrick dường như do các phản xạ vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Thật vậy, trước Chiến tranh thế giới thứ hai và sự phát triển của kỹ thuật hiện đại, nôn thường gây tử vong, nếu mang thai nôn nhiều thường sẽ hỏng thai.

Ngày nay, mặc dù tỷ lệ tử vong hiếm, nhưng hậu quả nghiêm trọng do nôn mửa dữ dội có thể xảy ra, bao gồm cả vỡ thực quản, xẹp phổi và rách lách.

Khi Fitzpatrick sụt mất mười hai pound thì các bác sĩ thấy cần phải làm gì đó để giúp đỡ cô. Bác sĩ đã dùng thuốc để cố gắng kiểm soát cơn buồn nôn, ói mửa, cho phép cô ăn và uống trở lại.

Đầu tiên, các bác sĩ thử Reglan, một loại thuốc thường được dùng để điều trị buồn nôn do gây mê toàn thân.

 Nó dường như không giúp đỡ được gì mà thay vào đó, nó gây ra biến chứng như run, cứng hàm, tăng trương lực cơ và khó thở.

Các bác sĩ thử một thuốc thứ ha,i Compazine nhưng không thay đổi gì nhiều và sau đó vẫn phải thay đổi thuốc khác, Phenergan làm cô buồn ngủ nhưng không hề làm chậm cảm giác buồn nôn.

Tất cả những thuốc này hoạt động bằng cách chặn các thụ thể dopamine trong não.

tuy nhiên, một nhóm thuốc chống nôn mới gần đây trên thị trường hiện nay, các thuốc này chẹn thụ thể serotonin và điều này đã được ca ngợi là một bước đột phá trong điều trị buồn nôn và ói mửa.

Chúng không hề rẻ – Zofran, chi phí một trăm hai mươi lăm USD một ngày hoặc hơn, nhưng các nghiên cứu cho thấy chúng làm giảm đáng kể nôn ở bệnh nhân hóa trị cũng như ở một số bệnh nhân phẫu thuật.

Cũng không có bất kỳ vấn đề dị tật bẩm sinh nào được phát hiện.

 Vì vậy, Itzpatrick đã được dùng Zofran tĩnh mạch trong vài tuần, nhưng, một lần nữa, không có kết quả.


Bác sĩ của cô cũng cho làm các xét nghiệm máu, siêu âm và tham khảo với nhiều chuyên gia.

Buồn nôn có thể là biểu hiện của sự tắc nghẽn đường tiêu hóa hay nhiễm trùng nặng hoặc ngộ độc. Nhưng không tìm thấy nguyên nhân nào ở cô.

“Tôi biết các bác sĩ đang cố gắng hết khả năng,” Fitzpatrick nói, và cô cũng đã cố gắng hết sức mình.

Cô sắp xếp các bồn để đựng chất nôn tại các điểm xung quanh nhà và cho một máy hút với vòi nhựa ở đầu giường của mình để hút tất cả nước bọt từ miệng cô.

Ngoài ra, Fitzpatrick thử điều trị thảo dược, mát xa của Trung Quốc và nước chanh. Cô đã dùng gừng sau khi cô biết về một nghiên cứu cho thấy rằng nó có thể có hiệu quả với tình trạng của cô. Cô cũng đã đeo dây cổ tay bấm huyệt áp dụng áp suất không đổi ở “điểm Neiguan” một chỗ trên trong của cẳng tay từ nếp gấp cổ tay, giữa các dây chằng.

Mặc dù bấm huyệt có thể giúp giảm tình trạng buồn nôn do thai nghén, hóa trị và chuyển động tàu xe, tuy nhiên các nghiên cứu đã không cho thấy bất kỳ tác dụng nào và Fitzpatrick cũng không ngoại lệ.


Đáng lo ngại hơn, các triệu chứng đã không tiến triển tốt hơn theo thời gian như các bác sĩ đã dự kiến.

Đến tháng thứ tư của thai kỳ, cô vẫn buồn nôn như trước. Trọng lượng của cô đã xuống 16 pound. Bác sĩ đã chuyển cô đến Bệnh viện Đại học George Washington và cô đã được đánh giá là sản phụ nguy cơ cao.

Cô được nuôi ăn tĩnh mạch và cuối cùng cũng bắt đầu tăng cân trong vài tháng sau đó, tuy nhiên, thời gian cô ở viện nhiều hơn ở nhà.

Họ cho rằng cô cần gặp phải 1 bác sĩ tâm lý.

Sự lo lắng và căng thẳng có thể ảnh hưởng đến cảm giác buồn nôn và cô sẵn sàng thử bất cứ điều gì để cải thiện triệu chứng này.

Đáng ngạc nhiên khi 1 số các bác sĩ vẫn tin vào lý thuyết lỗi thời của Freud rằng chứng nôn là do sự từ chối vô thức của thai kỳ.

Tình hình đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát của các bác sĩ và tệ hơn là sự hiểu biết của họ. Đương nhiên, Fitzpatrick chỉ muốn tìm cách đạt được một biện pháp kiểm soát bản thân.

Có lúc, cô và gia đình cô đã cố gắng phối hợp khi bác sĩ muốn điều trị thử 1 loại thuốc mà họ đã đọc được qua một bài báo nói về kinh nghiệm Maria Shriver với chứng nôn. Việc điều trị liên quan đến truyền liên tục droperidol, thuốc an thần

thường được sử dụng để làm giảm buồn nôn và nôn ở bệnh nhân phẫu thuật .

 Các bác sĩ đã đồng ý để cô thử nó. Tuy nhiên, tình trạng của Fitzpatrick thực tế trở nên tồi tệ hơn. Cô bắt đầu nấc lên mỗi mười phút, phát triển các vết xước nhỏ trong thực quản và bắt đầu  có máu. Đau không thể chịu được.

Các bác sĩ đã khuyên cô phá thai nhưng cô không đồng ý vì mỗi ngày đều có y tá đến chăm sóc và siêu âm cho cô nghe thấy hai trái tim nhỏ bé đang rung lên trong bụng.

Chính điều đó làm cô có động lực để tiếp tục cố gắng.

Miếng dán ngoài da chứa scopolamine – thuốc giảm say tàu xe và nôn sau phẫu thuật nhưng dường như không tác dụng với phụ nữ mang thai hoặc bệnh nhân hóa trị liệu.

Các chất đối kháng dopamin-receptor Phenergan tác dụng tốt đối với nhiều phụ nữ mang thai và cho người say tàu xe nhưng không có tác dụng với bệnh nhân hóa trị liệu.

Ngay cả loại thuốc tiên tiến nhất như Zofran, cũng không phải lúc nào cũng có tác dụng.

Trong khi Zofran có thể có hiệu quả cao chống nôn do điều trị hóa trị và gây mê, các nghiên cứu cho thấy nó không tác dụng với say tàu xe hoặc nôn trong thai kỳ. (hút cần sa, dường như hiệu quả cho bệnh nhân hóa trị liệu, nhưng trong thời kỳ mang thai lại độc cho thai nhi như thuốc lá).

Như các nhà khoa học giải thích, bộ não có một chương trình nôn (hoặc “module”) tiếp nhận và đáp ứng tất cả các loại kích thích: từ receptor hóa học trong mũi, ruột và não bộ; từ thụ thể phát hiện tình trạng căng đầy của dạ dày hoặc kích thích của lưỡi gà; từ các thụ thể cảm biến chuyển động ở tai trong; và từ trung tâm não bộ điều chỉnh bộ nhớ, tâm trạng và nhận thức.

Mỗi loại thuốc hiện nay của chúng ta có lẽ can thiệp  ưu thế hơn vào một số con đường so với những thuốc khác. Do đó sẽ có các kết quả khác nhau trong những điều kiện khác nhau.

Hơn nữa, mặc dù chúng ta thường nghĩ buồn nôn và nôn như một phần của hiện tượng này, nhưng thực sự chúng khá riêng biệt, có thể do liên quan đến các quá trình riêng biệt trong não và mỗi loại thuốc có thể chỉ tác động đến một triệu chứng. Nôn mửa không phải luôn luôn liên quan đến buồn nôn.

Tôi còn nhớ một đứa trẻ lớp sáu có thể nôn ra nuốt vào mà không dùng ngón tay thọc xuống cổ họng hoặc bất cứ điều gì, mặc dù đứa trẻ không cảm thấy buồn nôn. Và những người có tình trạng này gọi là “ hội chứng nhai lại” có một xu hướng không rõ nguyên nhân nôn thức ăn từ dạ dày của mình vào miệng của họ ngay sau mỗi bữa ăn mà không có liên quan gì  đến buồn nôn.

Hoặc họ nuốt thức ăn một lần nữa hoặc nhổ nó ra, “tùy thuộc vào hoàn cảnh xã hội” . Ngược lại, thậm chí buồn nôn nặng không nhất thiết phải có nôn.

 Và các loại thuốc chống nôn không nhất thiết ngăn chặn buồn nôn, một điểm mà nhiều bác sĩ và y tá thường không nhận ra.

Ví dụ, nhiều bác sĩ đã đánh giá cao Zofran. Một nghiên cứu bởi Gary Morrow, một nhà nghiên cứu về hiện tượng nôn tại Đại học Rochester, thấy rằng việc sử dụng Zofran giúp giảm nôn ở bệnh nhân hóa trị.

Các nghiên cứu về triệu chứng nôn ở bệnh nhân hóa trị, phát hiện ra một thứ thậm chí còn đáng ngạc nhiên hơn.

Ba loại nôn và ói mửa riêng biệt.

Một loại “cấp tính” xảy ra trong vòng vài phút đến vài giờ  sau sử dụng một loại thuốc hóa trị độc hại, sau đó giảm dần. Nhưng sau đó nhiều bệnh nhân buồn nôn và nôn quay lại sau một- hai ngày, hiệu ứng gọi là “trì hoãn nôn.”

Và khoảng một phần tư bệnh nhân hoá trị liệu thậm chí bắt đầu có “nôn mửa và nôn mửa theo dự đoán” triệu chứng xảy ra trước khi các loại thuốc được tiêm. Morrow đã ghi một số đặc điểm nổi bật của các loại nôn mửa. Các cơn buồn nôn cấp tính ban đầu dữ dội hơn, tệ hơn trước thời điểm nôn mửa.

Nôn mửa có thể xảy ra đầu tiên khi bệnh nhân thấy các y tá, người dùng thuốc, sau đó khi ông nhìn thấy bất kỳ y tá hay mùi phòng khám, khi ông vào bãi đậu xe phòng khám để điều trị hóa chất theo hẹn.

Morrow đã có một bệnh nhân nôn ra bất cứ khi nào cô nhìn thấy cửa thoát hiểm của bệnh viện.

Những phản ứng này là hậu quả quen thuộc của vấn đề tâm lý. Điều này có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc kéo dài buồn nôn ở các trường hợp khác, bao gồm cả thời kỳ mang thai. Tuy nhiên, các thuốc hiện nay không giúp đỡ được nhiều.

Các nghiên cứu của Morrow và những người khác thấy rằng chữa trị hành vi là duy nhất, như thôi miên hoặc thư giãn sâu, làm giảm đáng kể nôn

Làm sao giải quyết những vấn đề này và có bao nhiêu người sẵn sàng trả tiền để làm chúng biến mất, các công ty dược phẩm đang đầu tư hàng triệu đô la để tìm ra thuốc có hiệu quả hơn. Merck đã phát triển một loại thuốc đầy hứa hẹn, được gọi là MK-869. Đây là một trong các loại thuốc mới được các hãng gọi là “chất P đối kháng.”

Những loại thuốc này thu hút được chú ý khi Merck công bố rằng nó dường như hiệu quả lâm sàng đối với bệnh trầm cảm. Tuy nhiên, kết quả công bố trên Tạp chí Y học New England rằng MK-869 có hiệu quả đáng kể chống lại buồn nôn và nôn ở bệnh nhân hóa trị liệu.

Những phát hiện này là không bình thường vì hai lý do. Đầu tiên, thuốc giảm đáng kể cả nôn cấp tính và dự phòng nôn. Thứ hai, MK-869 không chỉ chống lại nôn mà giảm cả buồn nôn. Tỷ lệ bệnh nhân báo cáo nôn mửa trong năm ngày sau hóa trị liệu giảm từ 75 phần trăm còn 51 phần trăm khi dùng thuốc.

Ngay cả MK-869 cũng chỉ có thể ngăn chặn buồn nôn cho một nửa BN hóa trị liệu. (Ngoài ra, an toàn và hiệu quả của nó ở phụ nữ mang thai có thể vẫn chưa biết trong thời gian tới. Bởi vì cả hai mối nguy hiểm về y tế và pháp lý, các công ty dược thường tránh các loại thuốc thử nghiệm đối với phụ nữ mang thai.)

Vì vậy, không có “morphine” cho buồn nôn. Buồn nôn không kiểm soát vẫn còn là một vấn đề dai dẳng.

 Tuy nhiên, một chuyên khoa lâm sàng hoàn toàn mới được gọi là “điều trị giảm nhẹ” đang theo đuổi một dự án cấp tiến: các nghiên cứu khoa học về đau đớn.

Và những gì nổi bật là họ đang tìm kiếm giải pháp mới, chuyên giảm nhẹ là chuyên môn của họ trong việc chăm sóc bệnh nhân hấp hối đặc biệt trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống chứ không phải là kéo dài cuộc sống của họ.

Nhưng không phải lúc nào buồn nôn cũng rõ ràng. Hầu hết, buồn nôn không phải là một dấu hiệu của bệnh lý mà là một đáp ứng bình thường với một cái gì đó như mang thai hoặc thậm chí đến một điều trị có lợi như hóa trị liệu hoặc thuốc kháng sinh hoặc gây mê toàn thân.

Hãy xem xét tầm quan trọng của các dấu hiệu sinh tồn. Khi một bệnh nhân đang trong bệnh viện, mỗi bốn giờ hoặc lâu hơn, một y tá ghi lại các dấu hiệu sinh tồn trên biểu đồ cạnh giường để theo dõi đáp ứng điều trị như thế nào theo thời gian.

Theo quy ước trên toàn thế giới, bốn dấu hiệu quan trọng là nhiệt độ, huyết áp, mạch và tần số hô hấp. Giúp theo dõi BN đang tiến triển tốt hơn hoặc tệ hơn. Nhưng không cho chúng ta biết bất cứ điều gì về đau đớn, về cơ thể. Chuyên khoa điều trị giảm nhẹ đang cố gắng để thay đổi điều này. Và họ đang phát triển điều trị sâu hơn.

Ví dụ, khi các triệu chứng buồn nôn nặng (hoặc đau) phát triển , nó ngày càng đề kháng với các bất cứ liệu pháp loại nào.

Cách tiếp cận tốt nhất, các chuyên gia giảm nhẹ đã được học là bắt đầu điều trị khi các triệu chứng nhẹ hoặc trong một số trường hợp ngay trước khi chúng xuất hiện và chứng minh đúng cho dù bạn là một hành khách sắp lên tàu hoặc một bệnh nhân ung thư bắt đầu điều trị hóa chất.(Theo American Society of Clinical Oncology có hướng dẫn cách tiếp cận phòng ngừa nôn và buồn cho bệnh nhân hóa trị liệu.)

Khi các bác sĩ không ngần ngại kê toa thuốc chống nôn cho thai nghén bình thường, ít nhất là một phần ba phụ nữ có thai dùng loại thuốc này trong những năm 1960 và 1970-thấy giảm buồn nôn và nôn hơn. Nhưng các bác sĩ thay đổi sau vụ kiện thuốc Bendectin ra khỏi thị trường do cáo buộc hãng gây ra dị tật bẩm sinh (mặc dù nhiều nghiên cứu cho thấy không có bằng chứng).

Như trong trường hợp của Fitzpatrick, nôn đã gây ra mất nước hoặc suy nhược. Sản phụ nhập viện vì nôn khi mang thai

Amy Fitzpatrick nói các bác sĩ chưa bao giờ thấy bất cứ điều gì tương tự như trường hợp của cô và họ thấy lo lắng và thương hại cô.

Nhưng đối với tất cả các cách chữa trị cô và các bác sĩ đã cố gắng, cảm giác buồn nôn không tăng lên. Nó thực sự đã vượt quá sự hiểu của bất kỳ ai.

Những tháng đầu tiên thật khủng khiếp, phải đấu tranh đáng sợ. Dần dần cô cảm thấy một sự thay đổi, cô được tôi luyện tinh thần và thậm chí đã có một ý nghĩ rằng mọi thứ không tệ như vậy.

Cô cầu nguyện mỗi ngày và tin rằng hai đứa trẻ đang phát triển bên trong cô là một món quà từ Thiên Chúa.

Sau tuần thứ hai mươi sáu của thai kỳ, cô yêu cầu không điều trị thêm nữa. Các triệu chứng buồn nôn và nôn vẫn tồn tại, nhưng cô sẽ không thể bị đánh bại bởi nó. Cuối cùng, có một tia hy vọng. Đến tuần thứ ba mươi, cô thấy rằng cô có thể lựa chọn một món ăn kỳ lạ: thịt bò, măng tây, cá ngừ và kem bạc hà

Các triệu chứng buồn nôn vẫn còn, nhưng nó đã bớt đi một chút. Trong tuần 33, đầu tuần sau đó, Fitzpatrick đã có chuyển dạ. Các bác sĩ cảnh báo cô rằng cặp song sinh sẽ nhỏ, xung quanh 3 pounds. Ngày 12 tháng 9, vào 22:52, Linda đã được sinh ra, trọng lượng bốn pounds , Mười hai ounces và  22:57 Jack ra đời, lúc năm pound và có sức khỏe tuyệt vời.


Một thời gian ngắn sau sinh, Fitzpatrick buồn nôn một lần nữa. “Nhưng đó là lần cuối cùng, “cô nhớ lại. Sáng hôm sau, cô ấy đã uống một ly nước cam. Và đêm đó cô ấy đã ăn một chiếc bánh hamburger khổng lồ với phô mai xanh và khoai tây chiên. “Nó rất ngon,” cô nói.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net