» Nhật ký bác sĩ ngoại khoa P6- Cơn đau Nhật ký bác sĩ ngoại khoa P6- Cơn đau – Y học online

Nhật ký bác sĩ ngoại khoa

Nhật ký bác sĩ ngoại khoa P6- Cơn đau



Mọi nỗi đau đều có một câu chuyện, và câu chuyện về Rowland Scott Quinlan quay trở lại bệnh viện sau một tai nạn xảy ra cách đây nhiều năm, khi ông năm mươi sáu tuổi. Một kiến ​​trúc sư Boston và thủy thủ nhiệt tình với mái tóc trắng và luôn niềm nở nhiệt tình với đồng nghiệp.

vào tháng 3 năm 1988, ông rơi xuống một tấm ván tại công trường xây dựng – một gian hàng tại Sở thú Công viên Franklin. Lưng của ông không sao nhưng ông bị trật khớp và gãy xương bả vai trái. Sau đợt đó ông cảm giác đau như bị một con rắn quằn quại ở sau lưng. Các cơn đau này tái phát, lúc đầu ông cố gắng chịu nhưng dần dần trở nên không chịu nổi. Nhiều khi đang đứng với khách hàng, cơn đau đột ngột xuất hiện làm ông quỵ xuống sàn, cố không chảy nước mắt trước mặt khách hàng. Trong 1 nhà hàng khi ngồi với khách hàng, cơn đau bùng nổ đến nỗi ông nôn ngay tại bàn  Chẳng bao lâu ông không thể làm việc nhiều hơn hai hay ba giờ mỗi ngày, và phải từ bỏ công ty cho các đối tác của mình.

115

Bác sĩ chỉnh hình của Quinlan đã chụp rất nhiều phim XQ. Họ nghĩ có lẽ ông chỉ bị viêm khớp, không phát hiện gì đặc biệt. Ông được gửi tới chuyên gia kiểm soát đau, họ tiêm 1 ống tiêm có kim dài đầy steroid và thuốc tê tại chỗ vào cột sống của ông. Ban đầu những mũi tiêm ngoài màng cứng này có tác dụng giảm đau trong vài ngày, đôi khi 1 tuần nhưng những mũi tiếp theo giảm dần tác dụng và thậm chí không có tác dụng

Tôi đã thấy phim CT của ông cùng với một loạt các xét nghiệm khác. Không có gì trong chúng có thể khiến tôi nghĩ tới nguyên nhân gây cơn đau dữ dội của bệnh nhân: không có gãy xương, không có khối u, không có xâm lấn và thậm chí không có dấu hiệu viêm khớp. Các đốt sống và các khe khớp đẹp 1 cách hoàn  hảo. Không có thoát vị đĩa đệm hay lún vỡ đốt sống. Ở vùng thắt lưng dưới, đĩa đệm có phồng ra phía ngoài chút nhưng bình thường với độ tuổi của ông ta, chỗ phồng dường như không có chèn ép lên bất cứ dây thần kinh nào.

Khi các bác sĩ gặp phải một bệnh nhân bị đau mạn tính mà không tìm ra những tổn thương thực thể để giải thích cho nó – những bệnh nhân này quá hay gặp – chúng ta có xu hướng chẩn đoán tùy tiện. Chúng tôi tin rằng thế giới có thể giải mã và giải thích hợp lý các vấn đề chúng ta ít gặp hoặc chưa biết với 1 số máy móc. Vì vậy, với biểu hiện đau như của Quinlan, chúng ta có xu hướng kết luận trong đầu: không phải là một cơn đau thực thể mà vấn đề liên quan “tâm căn”.  Trong thực tế, bác sĩ của Quinlan khuyên ông nên gặp một bác sĩ tâm thần cũng như một bác sĩ vật lý trị liệu

Khi tôi đến nhà Quinlan, ở một thị trấn ven biển bên ngoài Boston, tôi thấy anh đang ở trong phòng làm việc: một bàn làm việc trong nhà bếp hướng ra một cửa sổ nhìn ra khu vườn nhỏ. Bản thiết kế của các dự án chưa hoàn thành được cuộn tròn thành cuộn trên bàn. Một tai nghe điện thoại nằm ở một bên. Một chục loại bút vẽ khác nhau. Anh nhăn nhó khi anh đứng dậy chào tôi. tôi đã nghĩ

về những xét nghiệm và hình ảnh rõ ràng về cột sống của anh ta: liệu anh ta có đang giả vờ hay không?

Khi tôi hỏi anh ta, anh ấy cười khẽ, và nói với tôi rằng đôi khi anh ấy tự hỏi bản thân mình. “Tôi cũng chả hiểu tại sao nữa,” anh nói. Tuy nhiên, mặc dù có miếng dán liều cao fentanyl qua da trên cánh tay của anh ta dùng mỗi 24h, thậm chí anh không thể làm được điều gì như đứng xếp hàng, đi lên cầu thang hay ngủ hơn 4h 1 chút vì cảm giác “ai đó đang cấu xe bắp thịt ở lưng tôi”

Tôi hỏi vợ anh ta, một phụ nữ trẻ hơn anh ta vài tuổi, xinh đẹp với đôi mắt buồn. Cô ấy nói với tôi rằng ngày này qua ngày khác trong 10 năm nay, cô thấy mệt mỏi khi thấy chồng bệnh tật mà không rõ anh bị bệnh gì. Mặc dù anh thích xem phim ở rạp nhưng họ đã không đi xem phim trong nhiều năm, có những lúc đau đến nỗi ông đại tiện ra quần khi không thể lết tới nhà vệ sinh

Tuy nhiên, có những lúc cô tự hỏi liệu anh có vấn đề gì về tâm lý không. Cô nhận thấy khi anh ta lo lắng hay cáu kỉnh, cơn đau sẽ tồi tệ hơn, khi tâm trạng tốt hoặc bị phân tâm, cơn đau có thể biến mất.

Nhưng vấn đề là Roland Scott Quinlan không phải vẻ gì là bất thường. Trong số những người bị đau mãn tính, trường hợp của anh hoàn toàn bình thường.

bác sĩ Edgar Ross, một bác sĩ gây mê ở tuổi bốn mươi, là giám đốc trung tâm điều trị đau mãn tính tại Brigham. Bệnh nhân đến bác sĩ Ross với mọi loại đau có thể tưởng tượng được: đau lưng, đau cổ, đau khớp, đau toàn thân, đau thần kinh, đau liên quan đến AIDS, đau vùng chậu, nhức đầu mãn tính, đau do ung thư, đau chân tay. Thông thường, họ đã khám nhiều bác sĩ và thử nhiều cách điều trị, bao gồm cả phẫu thuật nhưng vô ích.

Phòng chờ của trung tâm trông giống như bất kỳ văn phòng của bác sĩ nào khác. Nó có thảm xanh phẳng, các tạp chí để bệnh nhân đọc.

Ross dẫn tôi vào văn phòng của anh ta. Nói nhẹ nhàng, anh ấy có một thái độ nhẹ nhàng phù hợp hoàn hảo với công việc của anh ấy. về vấn đề của Quinlan, anh ấy nói với tôi, là cái anh ta thường hay gặp nhất. Đau lưng mãn tính hiện nay chỉ đứng thứ hai sau cảm lạnh thông thường là nguyên nhân gây giảm hiệu quả công việc của người lao động. Trong thực tế, tình trạng đau lưng hiện nay khá phổ biến nhưng không ai có thể giải thích tại sao. chúng tôi nghĩ đó là một vấn đề cơ học, hậu quả của Làm việc sai tư thế.

Giải thích nguyên nhân cơ học gần như chắc chắn sai trong trường hợp này, Ross lưu ý. Đúng là việc nâng thứ gì đó sai cách có thể gây ra sự co kéo cơ hoặc trượt đĩa đệm. Nhưng nó thường xảy ra tại 1 thời điểm nào đó và không bao giờ trở thành vấn đề nghiêm trọng như bệnh nhân này. Trước đây người ta thường tìm những tổn thương liên quan nhưng gần đây họ nhận ra: chụp MRI đa số có lồi đĩa đệm ra nhưng không phải nguyên nhân chính gây đau lưng. Ngược lại, một tỷ lệ lớn bệnh nhân bị đau lưng mãn tính, như Quinlan, không có tổn thương về cấu trúc.

Lời giải thích về biểu hiện đau đã chi phối nhiều tiền sử bệnh tật bắt nguồn từ René Descartes, cách đây hơn ba thế kỷ. Descartes đã đề xuất rằng cơn đau là một dạng hoàn toàn không phải là tổn thương thực thể – mà tổn thương mô kích thích dây thần kinh cụ thể truyền xung về não, khiến cho não cảm nhận được cơn đau. Anh ấy nói, giống như một sợi dây thừng đang rung chuông trong não. Nghiên cứu trong thế kỷ 20 về đau được dành phần lớn cho việc tìm kiếm và khám phá các sợi thần kinh đặc hiệu đau (nay được đặt tên là các sợi A-delta và C) và các con đường dẫn truyền đau, dùng thuật ngữ “descartes”

Tuy nhiên, những hạn chế của vấn đề tổn thương thực thể đã được làm rõ. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Trung tá Henry K. Beecher đã tiến hành một nghiên cứu về những người đàn ông bị thương nặng ở chiến trường. Theo quan điểm Descartes, mức độ chấn thương phải xác định bằng thang điểm đau. Tuy nhiên, 58 phần trăm đàn ông – những người bị gãy xương khớp, vết thương do súng đạn, tay chân bị rách — chỉ báo cáo đau một chút hoặc không đau chút nào. Chỉ 27% nam giới cảm thấy đau cần phải dùng thuốc giảm đau.

Rõ ràng, một cái gì đó đang diễn ra trong tâm trí họ – Beecher nghĩ rằng họ rất vui mừng vì đã trốn thoát khỏi chiến trường — chống lại những tín hiệu được gửi đi bởi vết thương của họ. Đau đã trở nên được công nhận là phức tạp hơn nhiều so với truyền một chiều từ vị trí tổn thương về não

Năm 1965, nhà tâm lý học người Canada Ronald Melzack và nhà sinh lý học người Anh Patrick Wall đã đề xuất rằng “mô hình Descartes” được thay thế bằng cái mà họ gọi là “Lý thuyết của cổng kiểm soát đau – Gate-Control Theory of Pain” Melzack và Wall lập luận rằng trước khi tín hiệu đau đến não, đầu tiên chúng phải trải qua một cơ chế qua cổng “gating” trong tủy sống, có thể làm chúng nâng lên hoặc hạ xuống. Trong một số trường hợp, cổng này chỉ đơn giản là có thể ngăn chặn các cơn đau đến não. Trên thực tế, các nhà nghiên cứu đã nhanh chóng xác định được một “cổng” kiểm soát cơn đau ở một phần của tủy sống được gọi là sừng lưng. Lý thuyết giải thích vì sao cọ xát vào bàn chân bên bị đau làm cảm giác đau giảm đi (Chà xát sẽ gửi tín hiệu đến sừng lưng đóng cửa các xung dẫn truyền đau gần đó.)

đáng ngạc nhiên nhất của Melzack và Wall là phát hiện cổng nỳ không chỉ dẫn tín hiệu từ thần kinh cảm giác mà còn liên quan xung dẫn truyền ra từ não. Họ nói rằng không chỉ kéo sợi dây thừng mới làm chuông reo. Bản thân cái chuông — não — có thể ngăn nó lại. Lý thuyết của họ đã thúc đẩy rất nhiều nghiên cứu về các yếu tố như tâm trạng, giới tính và niềm tin ảnh hưởng đến cảm giác đau đớn như thế nào. Ví dụ, trong một nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã đo được ngưỡng chịu đau và mức độ chịu đừng trong năm mươi hai vũ công từ một công ty múa ba lê ở Anh và năm mươi ba sinh viên đại học sử dụng một phương pháp tiêu chuẩn gọi là test nước lạnh. Bài test rất đơn giản. (Tôi đã tự mình thử ở nhà) Sau khi nhúng tay vào nước trong 2 phút để thiết lập điều kiện cơ bản, bạn nhúng tay vào một bát nước đá và bắt đầu chạy đồng hồ. Bạn đánh dấu thời điểm tay bắt đầu đau: đó là ngưỡng đau của bạn. Sau đó, bạn đánh dấu thời gian khi nó đau quá mức để giữ bàn tay của bạn trong nước: đó là khả năng chịu đau của bạn. test luôn được dừng lại ở một trăm hai mươi giây, để ngăn ngừa bỏng lạnh

Kết quả thật ấn tượng. Trung bình, học sinh nữ báo cáo đau ở mười sáu giây và rút tay ra khỏi nước đá ở ba mươi bảy giây. Nữ vũ công gần gấp 3 lần. Đàn ông ở cả hai nhóm đều có ngưỡng cao hơn và chịu đựng đau lâu như mong đợi, vì các nghiên cứu cho thấy phụ nữ nhạy cảm hơn đàn ông về cảm giác đau, ngoại trừ trong vài tuần cuối của thai kỳ, nhưng sự khác biệt giữa nam và nữ rất lớn. Điều gì giải thích sự khác biệt này?

Có lẽ nó có liên quan đến tâm lý của các vũ công ballet – một nhóm được phân biệt bởi kỷ luật tự giác, thể lực thể chất và khả năng cạnh tranh, cũng như tỷ lệ chấn thương kinh niên cao. Tính cách và văn hóa cạnh tranh của họ rõ ràng giúp họ chịu đau: đó là lý do tại sao họ vẫn có thể theo nghề dù bong gân và gãy xương do áp lực, và tại sao một nửa tất cả các vũ công đều có chấn thương lâu dài. (Tương tự như những người đàn ông không chuyên khác, tôi bắt đầu cảm thấy đau ở khoảng hai mươi lăm giây, nhưng tôi không gặp khó khăn gì trong việc giữ bàn tay của tôi trong một trăm hai mươi giây).

Các nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng, những người lạm dụng thuốc giảm đau sẽ chịu đau kém hơn và ngưỡng đau thấp hơn, với quá trình luyện tập người ta có thể làm giảm sự nhạy cảm với đau. Ngoài ra còn có bằng chứng nổi bật rằng các trạng thái tinh thần có thể có tác động mạnh đến cơn đau. Trong một nghiên cứu của năm trăm bệnh nhân đã phẫu thuật nha khoa, những người được tiêm giả dược và động viên rằng nó sẽ làm giảm cơn đau của họ – kết quả bệnh nhân chỉ cảm thấy đau chút chút.

Ngày nay, rõ ràng là bộ não đang tích cực tham gia vào quá trình đau, và không chỉ là cái chuông trên một sợi dây. Ngày nay, mọi sách giáo khoa y khoa đều dạy lý thuyết điều khiển cổng (Gate). Tuy nhiên, có một vấn đề với nó. Nó không giải thích được vấn đề với những người như Roland Scott Quinlan.

Lý thuyết điều khiển cổng chấp nhận quan điểm của Descartes rằng những gì bạn cảm thấy là đau là một tín hiệu từ tổn thương mô truyền bởi thần kinh đến não, và nó cho biết thêm rằng não điều khiển một cổng cho tín hiệu tổn thương như vậy. Nhưng trong trường hợp đau lưng mãn tính của Quinlan, chấn thương ở đâu? Liệu nó có giống như “chi – ma (tay chân giả)). Sau khi cắt cụt chi, bệnh nhân thấy bỏng rát, chuột rút dù chi đó không còn hay cảm giác như chi đó vẫn còn tồn tại vậy. tuy nhiên không còn chi, không có xung dẫn truyền qua cổng kiểm soát

Vậy cơn đau đến từ đâu? Sợi dây đã biến mất, nhưng cái chuông vẫn có thể đổ chuông.

Một ngày xuân năm 1994, bác sĩ Frederick Lenz, một bác sĩ giải phẫu thần kinh tại bệnh viện Johns Hopkins, mang đến bàn mổ của anh một bệnh nhân bị run tay nặng. Bệnh nhân, người mà tôi gọi là Mark Taylor, chỉ mới ba mươi sáu tuổi, nhưng trong những năm qua tay anh ta đã run rẩy dữ dội ngay cả động tác đơn giản nhất – viết, mặc áo sơ mi, cầm ly uống nước, hoặc gõ vào bàn phím – đã trở nên vô cùng khó khăn. Điều trị nội khoa thất bại. anh đã đồng ý làm thủ thuật tinh tế, tiêu diệt tế bào não trong 1 cấu trúc nhỏ là đồi thị “thalamus” – được cho là góp phần vào sự run rẩy quá mức của bàn tay

Tuy nhiên, Taylor lại có một vấn đề lớn khác: trong mười bảy năm, anh đã phải vật lộn với chứng rối loạn hoảng sợ nghiêm trọng. Ít nhất một lần một tuần, trong khi anh đang làm việc tại máy tính của anh hay ở trong nhà bếp, anh đột nhiên sẽ bị đau ngực dữ dội, như thể anh đang bị đau tim. tim anh đập mạnh, thở dốc và có sự thôi thúc anh phải tìm cách để trốn thoát . Tuy nhiên, bác sĩ Lenz đã tham khảo ý kiến bác sĩ tâm lý đảm bảo rối loạn này không ảnh hưởng tới căn bệnh run tay này

Ban đầu, Lenz nói, mọi thứ diễn ra như anh mong đợi. Anh ta tiêm thuốc tê tại chỗ — làm khi bệnh nhân tỉnh táo — và mở 1 lỗ nhỏ ở hộp sọ của Taylor. Sau đó, khi anh thận trọng lắp 1 đầu dò dài, mỏng và sâu vào bên trong, ngay vùng đồi thị. Lenz nói chuyện với Taylor trong toàn bộ thời gian phẫu thuật, yêu cầu anh ta thè lưỡi ra, di chuyển một bàn tay, làm bất kỳ động tác nào để kiểm tra bệnh nhân hoàn toàn ổn. các tế bào vùng dưới đồi tham gia vào quá trình run chỉ nằm cách 1 milimet các tế bào ảnh hưởng đến cảm giác và vận động. Vì thế trước khi làm gì đó, các bác sĩ phải tìm tế bào bằng cách kich thích chúng với một xung điện nhẹ nhàng. Thăm dò nằm trong một phần của vùng đồi thị của Taylor mà Lenz dán nhãn Site 19, và anh ta đã đặt nó với điện áp thấp. Lenz đã từng làm nhiều ca trước đây, thông thường, anh ấy nói với tôi, vị trí này tương ứng khi kích thích điện áp thấp sẽ làm bệnh nhân cảm thấy như bị đâm vào cẳng tay. Chắc chắn, đây là những gì Taylor cảm thấy. Lenz sau đó kích thích khu vực lân cận được dán nhãn Site 23, kích thích vùng này thường có cảm giác ngứa nhẹ và bình thường vùng lồng ngực. Tuy nhiên, lần này, Taylor cảm thấy một cơn đau cực kỳ dữ dội – thực tế, cơn đau ngực như những lần rối loạn hoảng sợ, nó làm anh ta phát khóc và gần như nhảy ra khỏi bàn mổ. Tuy nhiên, khi Lenz ngừng kích thích, cảm giác biến mất, và Taylor trở nên bình tĩnh ngay lập tức. Bối rối, Lenz kích thích vị trí site 23 một lần nữa, và lại xuất hiện triệu chứng tương tự một lần nữa. Anh dừng lại, xin lỗi Taylor vì sự khó chịu, và tiếp tục xác định vị trí các tế bào kiểm soát sự run rẩy của anh và đốt chúng. Chiến lược đã thành công.

Tuy nhiên, ngay cả khi Lenz hoàn thành xong ca thủ thuật, anh chợt nhớ lại. trước đó anh cũng từng có trường hợp như này, Đó là một phụ nữ sáu mươi chín tuổi với tiền sử đau ngực dữ dội khó kiểm soát, cô bị hạn chế hoạt động, thậm chí hoạt động nhẹ cũng có thể gây áp lực lên trái tim cô ấy. anh cũng từng làm tương tự trên não cô và nhận ra kích thích vùng này gây đau ngực dữ dội như trường hợp của Taylor. , Như ông sau này đã lưu ý trong một báo cáo được công bố trên tạp chí Nature Medicine, phản ứng ở hai bệnh nhân này cực kỳ tỷ lệ với kích thích. Các khu vực của não điều chỉnh cảm giác bình thường

dường như đã trở nên nhạy cảm bất thường – liên quan tới phản ứng với những kích thích hoàn toàn vô hại. Trong trường hợp của người phụ nữ trên, cơn đau ngực của cô đã bắt đầu như dấu hiệu của bệnh tim  nhưng không có bất cứ điều gì giống như một cơn đau tim sắp xảy ra. Thậm chí kỳ quặc hơn, trong trường hợp của Taylor, cơn đau bắt đầu không liên quan tới rối loạn hoảng sợ, điều này được hiểu là một tình trạng rối loạn tâm lý. Những phát hiện của Lenz cho thấy, trên thực tế, tất cả những cơn đau là “ở trong đầu” – và hơn nữa đôi khi, như với Mark Taylor hoặc có lẽ là Roland Scott Quinlan, không có bất kỳ tổn thương thực thể nào liên quan đến triệu chứng đau

Đây là lý thuyết mới nhất về đau. Người đề xuất nó là, một lần nữa, Melzack, người đã bỏ rơi lý thuyết “cổng kiểm soát đau” vào cuối những năm 1980. Với bằng chứng, bây giờ như anh ta nói, chúng ta nên ngừng nghĩ rằng cơn đau hay bất kỳ cảm giác nào khác là tín hiệu “cảm thấy” trong não. Vâng, chấn thương tạo ra các tín hiệu thần kinh di chuyển qua một cổng ở cột sống, nhưng bộ não tạo ra cảm giác đau, và nó có thể tự làm như vậy ngay cả khi không có các kích thích bên ngoài.

Theo lý thuyết mới, đau đớn và các cảm giác khác được hiểu là “phần mềm thần kinh – neuromodule” trong não – điều gì đó giống như các chương trình máy tính cá nhân trên ổ đĩa cứng. Khi bạn cảm thấy đau đớn, đó là bộ não của bạn đang chạy một neuromodule tạo ra cảm giác đau đớn, như thể ai đó nhấn nút phát trên đầu đĩa CD. Và rất nhiều thứ có thể nhấn nút. Cách Melzack giải thích nó, một neuromodule đau không phải là một thực thể giải phẫu độc đáo mà là một mạng lưới, liên kết các thành phần từ hầu như mọi vùng của não. Đầu vào được thu thập từ các dây thần kinh cảm giác, trí nhớ, tâm trạng và các trung tâm khác, giống như các thành viên của một ban nhạc chịu trách nhiệm về việc liệu âm nhạc sẽ chơi hay không. Nếu tín hiệu

đạt đến một ngưỡng nhất định, chúng sẽ kích hoạt neuromodule. Đau là một bản giao hưởng – một phản ứng phức tạp bao gồm không chỉ là một cảm giác khác biệt mà còn là hoạt động vận động, thay đổi cảm xúc, tập trung chú ý, một bộ nhớ hoàn toàn mới.

Lý thuyết mới về tâm lý của đau, gần như toàn diện, đã giúp đưa ra phương hướng dùng thuốc điều trị đau. Đối với các nhà ung thư học, loại thuốc  điều trị đau mãn tính hiệu quả hơn morphine nhưng ít tác dụng phụ liên quan vấn đề hệ thống thần kinh hoạt động quá mức là nguyên nhân, thì những gì người ta cần là một loại thuốc sẽ làm giảm nó đi. Đó là lý do tại sao, trong một thập kỷ trước có vẻ như kỳ lạ, khi các chuyên gia đau ngày càng ghi chép lại các loại thuốc chống co giật, như carbamazepine và gabapentin, cho những bệnh nhân khó điều trị nhất. Xét cho cùng, đó là những gì các loại thuốc này làm: chúng điều chỉnh các tế bào não để điều chỉnh sự kích thích của chúng. Cho đến nay, các loại thuốc này chỉ có tác dụng đối với một số người – Quinlan đã dùng gabapentin trong hơn sáu tháng mà không có nhiều tác dụng – nhưng các công ty dược đang nỗ lực làm việc để nghiên cứu thế hệ mới của các thuốc “ổn định thần kinh” tương tự.

Neurex, một công ty công nghệ sinh học nhỏ ở Thung lũng Silicon (nay gọi là Elan Pharmaceuticals), cách đây không lâu đã sáng chế một loại thuốc giảm đau từ nọc độc của ốc biển Conus vì những suy nghĩ như vậy. Các nguyên tử, không cần phải nói, có tính sinh học mạnh, và không giống như hầu hết các protein từ tự nhiên mà các nhà khoa học đã cố gắng sử dụng làm thuốc, chúng né tránh các cơ chế của cơ thể để phá vỡ các protein. Bí quyết là chế ngự nọc độc, sửa đổi nọc độc để nó có ích về mặt y tế. Nọc độc Conus được biết đến là giết chết kẻ thù bằng cách ngăn chặn các con đường cụ thể trong não để các tế bào thần kinh tiến hành phản xạ. Tuy nhiên, với một vài thay đổi, các nhà khoa học Neurex đã tạo ra Ziconotide, một loại thuốc chỉ ức chế một chút những con đường đó. Thay vì bất hoạt các tế bào não, dường như nó chỉ làm tắt đi sự kích thích của chúng. Trong các thử nghiệm lâm sàng ban đầu, Ziconotide kiểm soát hiệu quả cơn đau mãn tính từ bệnh ung thư và AIDS. Một loại thuốc giảm đau thế hệ mới khác đang phát triển là ABT-594 của Abbott Laboratories, một hợp chất liên quan đến chất độc tiết ra bởi một con ếch Ecuador, Epibpedobates tricolor. Trong các thí nghiệm trên động vật đã được công bố trên tạp chí Science, ABT-594 đã chứng minh tác dụng gấp năm mươi lần morphin trong việc giảm đau. Các công ty cũng có các loại thuốc giảm đau khác đường ống, bao gồm một nhóm thuốc có tên là NMDA, cũng có tác dụng làm giảm kích thích thần kinh. Một trong số đó có thể trở thành thuốc giảm đau mà Quinlan và những bệnh nhân như anh đang tìm kiếm.

Tuy nhiên, tốt nhất, những loại thuốc này chỉ là một giải pháp nửa chừng. Vấn đề cơ bản đối với nghiên cứu là làm thế nào để ngăn chặn các cơn đau ở những bệnh nhân như vậy ngay từ đầu. Các thông tin mà mọi người nói về cơn đau mãn tính của họ thường bắt đầu liên quan tới một chấn thương ban đầu. Tuy nhiên, bài học từ trung tâm giảm đau của Ross và bàn mổ của Lenz là những tiền đề gợi ý đau đớn nằm ở đâu đó ngoài cơ bắp và xương của bệnh nhân. Trên thực tế, một số dạng đau mãn tính hoạt động đáng kinh ngạc như dịch bệnh xã hội.

Tại Úc vào đầu những năm 1980, các công nhân, đã trải qua một đợt bùng phát đột ngột tê liệt do cơn đau ở cánh tay, các bác sĩ đã  phải dán nhãn “chấn thương do gắng sức tái phát” hoặc RSI. Đây không phải là một trường hợp lớn nhưng là vấn đề đau đớn nghiêm trọng, bắt đầu với sự khó chịu nhỏ trong khi gõ hoặc công việc lặp đi lặp lại khác. Thời gian trung bình mà một người thất nghiệp mất việc là bảy mươi bốn ngày. Cũng như đau lưng mãn tính, không có bất thường về thể chất hoặc điều trị hiệu quả, nhưng đau cánh tay lan rộng với mọi công nhân như dịch bệnh. Nó hầu như không tồn tại trước năm 1981, nhưng đến đỉnh điểm của nó, vào năm 1985, một lượng lớn lao động bị ảnh hưởng. Ở hai bang của Úc, RSI đã tàn phá tới 30% lực lượng lao động trong một số ngành công nghiệp; đồng thời có nhiều người lao động gần như hoàn toàn không bị ảnh hưởng. Các cụm xuất hiện ngay cả trong một tổ chức duy nhất. Ví dụ, tại Telecom Australia, tỷ lệ RSI giữa các nhà kinh doanh điện thoại trong một thành phố duy nhất khác nhau giữa các phòng ban. Các nhà điều tra cũng không thể tìm thấy bất kỳ mối liên quan nào giữa RSI và các lý do công việc thực tế của công. Sau đó, đột nhiên như nó đã bắt đầu, dịch này tự kết thúc. Đến năm 1987, về cơ bản nó đã kết thúc. Vào cuối những năm 1990, các nhà nghiên cứu Úc đã phàn nàn rằng họ không thể tìm thấy đủ bệnh nhân RSI để nghiên cứu.

Đau lưng mãn tính đã ở bên chúng ta lâu đến nỗi khó có khái niệm về nó- và thậm chí cả về mặt chính trị – để lùi lại và nhận ra nguyên nhân xã hội của nó, hãy tìm ra cách các yếu tố văn hóa làm cho triệu chứng đau của một cá nhân trở nên tồi tệ. Dịch bệnh đau ở Úc chứng minh sức mạnh của những yếu tố đó, nhưng hiểu biết của chúng ta về những nguyên nhân này và cách kiểm soát chúng còn quá ít ỏi. Chúng tôi biết từ nhiều nghiên cứu khác nhau rằng các mạng lưới hỗ trợ xã hội — một cuộc hôn nhân hạnh phúc và làm việc thỏa mãn, — sẽ bảo vệ chống lại sự đau lưng.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các điều kiện xã hội đóng một vai trò chi phối trong nhiều hội chứng đau mãn tính, bao gồm đau vùng chậu mạn tính, rối loạn khớp tạm thời và đau đầu kinh niên. Đối với các giải pháp để điều trị đau mãn tính có thể nằm bên ngoài hơn là những gì đang xảy ra bên trong chúng ta.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net