» Nhật ký bác sĩ ngoại khoa P3 – Máy tính và thoát vị Nhật ký bác sĩ ngoại khoa P3 – Máy tính và thoát vị – Y học online

Nhật ký bác sĩ ngoại khoa

Nhật ký bác sĩ ngoại khoa P3 – Máy tính và thoát vị



Vào 1 ngày hè năm 1996, Hans Ohlin, một trưởng khoa trẻ của khoa can thiệp mạch vành của Đại học Lund Hospital ở Sween, đi vào phòng làm việc với một sấp 2240 bản ECG. Mỗi bản ECG gồm 1 loạt các sóng lượn, đu từ trái qua phải. Ohlin đọc chúng một mình trong văn phòng vì ông ấy không muốn bị quấy rầy. Ông lướt qua chúng nhanh chóng nhưng cẩn thận, trong khi chia chúng thành 2 tập mà ông nghĩ rằng bản ECG đó ghi lại lúc bệnh nhân có cơn đau tim hay không. Để tránh mệt mỏi và thiếu tập trung, ông chỉ làm việc này trong 1 tuần, phân loại các ECG trong vòng không quá 2 giờ. Ông ấy không muốn mắc một lỗi bất cẩn nào. Ohlin là bác sĩ tim mạch của Garry Kasparov. Ông ấy cắm cúi với máy tính.

EKG là một trong những xét nghiệm thường quy nhất để chẩn đoán, được thực hiện hơn 50 triệu lần mỗi năm chỉ tính tại US. Các điện cực được đặt trên da để thu nhận những xung điện yếu với mỗi nhịp tim đập, những xung điện ấy đi xuyên qua cơ tim và được phản ánh bằng những sóng điện trên bản in của một ECG. Giả định rằng đằng sau EKG kia là 1 cơn đau tim, một phần cơ tim, sẽ gây ra những thay đổi về xung điện khi chúng đi qua vùng mô chết. Kết quả là, những sóng ghi trên bản ghi cũng thay đổi. Đôi khi, những thay đổi này rõ ràng và cũng có khi nó không đặc hiệu.

Với sinh viên Y, EKGs có vẻ như là một thứ gì đấy phức tạp và rắc rối nhất. Thông thường, EKG dùng 12 chuyển đạo, mỗi chuyển đạo cho một biểu đồ khác nhau trên bản ghi. Sinh viên ngày nay được dạy để phân biệt những sóng đó theo hàng chục hay nhiều kiểu, mỗi sóng được ký hiệu 1 chữ cái: Ví dụ, có nét đi xuống lúc bắt đầu một nhịp tim (sóng Q), một sóng đỉnh cao khi tâm thu(sóng R), sóng nữa đi xuống sau đó (sóng S) và 1 sóng trong ngay sau nhịp tim (sóng T). Đôi khi sự thay đổi nhỏ ở đây có thể nghĩ tới cơn đau tim, đôi khi lại không. Khi tôi còn là sinh viên, tôi học trước tiên là giải mã ECG như thể nó là 1 bài toán phức tạp. Những bạn cùng lớp của tôi mang theo những tấm thẻ trong túi áo blouse trắng với 1 danh sách những chỉ dẫn bí mật, đo nhịp tim và trục điện tim, kiểm tra rối loạn nhịp tim, sau đó kiểm tra đoạn ST có độ chênh lên lớn hơn 1mm ở chuyển đạo V1 đến V4, hoặc sóng R thấp hàng loạt (định nghĩa một cơn đau tim) hay không.

Trong luyện tập, sẽ dễ dàng hơn trong việc nắm bắt tất cả các thông tin này nếu như chỉ nhìn vào 1 chuyển đạo. Những khó khăn gặp phải trong chẩn đoán cũng không hề kém trong kỹ thuật. Một bác sĩ tim mạch có kinh nghiệm đôi khi có thể nhận ra một cơn đau tim trong nháy mắt, giống như đứa trẻ có thể nhận ra mẹ mình ngay lập tức vậy. Các nghiên cứu chỉ ra rằng khoảng 2 – 8% bệnh nhân ở phòng cấp cứu được cho về nhầm, và ¼ trong số họ chết hoặc ngừng tim hoàn toàn. Ngay cả khi bệnh nhân không bị trả về nhầm, việc điều trị cũng bị trì hoãn vì EKG bị đọc sai. Những lý do để cố dạy máy tính biết đọc EKG trở nên khá thuyết phục. Nếu máy đọc kết quả tốt, hàng ngàn sinh mạng có thể được cứu mỗi năm.

Việc khuyến cáo để cho máy đọc là từ năm 1990, trong một bài báo thuyết phục của tác giả William Baxt, bác sĩ cấp cứu ở Đại học California ở San Diego. Baxt mô tả làm thế nào để “mạng lưới thần kinh nhân tạo” – một loại cấu trúc máy tính – có thể đưa ra những quyết định lâm sàng tinh vi. Hệ thống chuyên môn đó học hỏi kinh nghiệm như con người: Bằng cách kết hợp phản hồi từ mỗi lần thành công và thất bại để cái thiện dự đoán của họ. Trong 1 nghiên cứu sau này, Baxt cho rằng một máy tính có thể thuận tiện làm tốt hơn một nhóm bác sĩ trong việc chẩn đoán những bệnh nhân có cơn đau ngực. Nhưng 2/3 bác sĩ trong nghiên cứu của ông là những bác sĩ nội trú chưa có kinh nghiệm đọc EKGs. Liệu máy tính có thể làm tốt hơn một chuyên gia có kinh nghiệm?

Câu hỏi đó là những gì mà Swedish nghiên cứu và trả lời. Nghiên cứu này dưới sự hướng dẫn của Lars Edenbrant, một đồng nghiệp của Ohlin và là một chuyên gia về trí tuệ nhân tạo. Eden Brant đã dành 5 năm để hoàn thiện hệ thống của ông ấy, lần đầu tiên ở Scotland và sau đó ở Thụy Điển. Ông ấy sử dụng máy EKGs cho hơn 10 ngàn bệnh nhân, chỉ cho nó đâu là một người có biểu hiện đau tin và đâu thì không phải, cho đến khi chiếc máy tự cải tiến và đọc được cả những EKGs đáng nghi nhất. Sau đó ông tiếp xúc với Ohlin – một trong những nhà tim mạch hàng đầu ở Thụy Điển và là người đọc hàng ngàn case EKG mỗi năm. Edenbrant đã lựa chọn 2240 EKG từ kho bệnh án của bệnh viện để kiểm tra xem cái nào chính xác, hơn 50% – 1120 người được xác nhận có nhồi máu cơ tim. Kết quả được công bố vào mùa thu năm 1997. Ohlin chọn chính xác 620. Máy tính chọn được 738. Máy tính chính xác hơn con người tới 20%.

Y học phương Tây bị chi phối bởi nhu cầu duy nhất – yêu cầu hoàn thiện máy móc trong việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Từ ngày đầu tiên của nền giáo dục y học, đó rõ ràng là một sai lầm không thể chấp nhận. Dành thời gian để theo dõi bệnh, không một tiền sử dị ứng hay một vấn đề y tế nào trước đó được bỏ qua, không một chẩn đoán nào được bỏ lỡ. Trong phòng mổ, không giờ phút nào, không một giây nào, không một giọt máu nào được lãng phí.

Bí kíp thành công là thói quen và sự lặp đi lặp lại: Khả năng sống sót sau phẫu thuật tim, phẫu thuật mạch máu và ở các phẫu thuật khác. Từ 25 năm trước, các bác sĩ phẫu thuật thực hiện tất cả từ cắt tử cung, cắt ung thư phổi và nạo xơ cứng động mạch. Ngày nay, mỗi thứ đều có chuyên gia riêng của nó, họ chỉ làm 1 việc duy nhất là phẫu thuật lặp đi lặp lại. Khi tôi ở trong phòng phẫu thuật, lời khen ngợi cao nhất của tôi là “Ông làm việc như một cái máy, Gawande” và việc sử dụng máy móc trở nên nhiều hơn thông thường: Con người, trong một số trường hợp, thực sự có thể hành động như một cái máy.

Hãy xét đến một phẫu thuật tương đối đơn giản: phục hồi thoát vị, là thứ mà tôi đã học kể từ năm đầu nội trú ngoại bệnh viện. Thoát vị là sự suy yếu của thành bụng, thông thường là ở háng, nó cho các tạng trong ổ bụng chui qua chỗ yếu đó ra ngoài. Trong hầu hết các bệnh viện – đẩy khối thoát vị trở lại và khâu phục hồi thành bụng – diễn ra trong khoảng 90 phút và có giá lên tới 4000$. Trong khoảng 10 – 15% trường hợp, phẫu thuật thất bại và bệnh nhân bị thoát vị trở lại. tuy nhiên, một số trung tâm y tế ở ngoại ô Toronto, như Bệnh viện Shouldice, phẫu thuật thoát vị thường diễn ra trong 30 – 40 phút. Tỷ lệ tái phát đáng ngạc nhiên chỉ là 1%. Và chi phí cho cuộc phẫu thuật chỉ bằng ½ so với nơi khác. Đó có thể là nơi tốt nhất để phẫu thuật thoát vị.

Bí quyết thành công đó là gì? Câu trả lời ngắn gọn là có đến chục bác sĩ phẫu thuật ở Shouldice chỉ làm phẫu thuật thoát vị và không làm gì khác. Mỗi người thực hiện khoảng 600 – 800 ca thoát vị mỗi năm, nhiều hơn hầu hết các bác sĩ phẫu thuật làm trong cả đời. Trong lĩnh vực này nói riêng, nhân viên của Shouldice được đào tạo tốt hơn và có kinh nghiệm hơn bất cứ ai. Nhưng có một cách khác để minh chứng cho lý do của thành công đó, đó là sự lặp lại việc thay đổi các suy nghĩ. Như Lucian Leape, một bác sĩ Ngoại Nhi ở Harvard, người nghiên cứu về các sai sót trong y học, giải thích “Một đặc trưng của nhà chuyên gia là họ làm việc nhiều hơn để giải quyết vấn đề theo chế độ tự động”. Bằng sự lặp lại, não bộ trở nên tự động và hoạt động dễ dàng, như khi bạn lái xe đi làm. Những tình huống mới đòi hởi phải suy nghĩ nhiều hơn gây khó khăn, khó thực hiện hơn và dễ phát sinh lỗi. Một bác sĩ ngoại được làm nhiều tình huống tự động sẽ có lợi thế hơn. Nếu các nghiên cứu EKG của Swedish lập luận rằng có những tình huống mà máy móc nên được thay cho bác sĩ lâm sàng, ví dụ của Shouldice cho thấy rằng các nhà lâm sàng cần được đào tạo để hoạt động như máy móc.

Vào một buổi sáng thứ 3 lạnh lẽo, tôi đeo khẩu trang và mũ giấy, lang thang giữa các case ở 5 phòng mổ trong bệnh viện Shouldice. Tôi đã xem 3 bác sĩ phẫu thuật cho 6 bệnh nhân và họ làm không lệch nhau một chút nào trong quy trình mổ chung. Trong một phòng được lát gạch, giống phòng mổ, tôi chăm chú nhìn qua vai của Richard Shang, một bác sĩ ngoại 51 tuổi hóm hỉnh và diện mạo trẻ trung. Dù chúng tôi nói chuyện trong lúc diễn ra cuộc mổ nhưng Dr.Sang vẫn luôn chú ý theo từng thao tác không ngừng, với 1 trợ lý biết chính xác phần mô nào cần kéo ra và một y tá chuyển dụng cụ cực chính xác từ bên phải, sự hướng dẫn các bước ở đây thực sự là không cần thiết. Bệnh nhân nam khoảng 35 tuổi thoát vị bẹn trái, thi thoảng lại hỏi mổ đến đâu rồi.  sau khi sát khuẩn vùng bụng dưới bằng cồn iode. Dr.Chang tê tại chỗ từ đỉnh hông trái tới xương mu, theo hướng nếp lằn bẹn. Với lưỡi dao sắc số 10, ông rạch một đường 4 inch theo đường này bằng một nhát cắt duy nhất, để lộ ra lớp mỡ vàng, lấp lánh phía dưới da. Người phụ dùng gạc chấm  máu theo đường rạch và kéo mép vết mổ ra.

Shang nhanh chóng cắt qua các lớp cơ thành bụng, tiến tới thừng tinh. Chỗ cổ bao thoát vị, giờ chúng ta có thể thấy là do nó đi qua điểm yếu của cơ thành bụng từ phía dưới thừng tinh, một vị trí rất hay gặp. Sang chậm lại 1 lúc, kiểm tra tỉ mỉ vị trí các dây chằng đến bám vào thành bụng. ông tìm thấy một chỗ nhỏ nữa, chỗ thoát vị thứ hai, nếu nó bị bỏ quên, gần như chắc chắn sẽ dẫn đến tái phát. Ông lật từng lớp cơ còn lại bên dưới thừng tinh để thành bụng được mở hoàn toàn, đẩy tạng thoát vị trở lại ổ bụng. Nếu bạn có một vết rách trên ghế trường kỷ và 1 thứ gì đó đi xuyên qua nó, bạn có thể đặt 1 miếng vá lên chỗ rách hoặc khâu mép rách lại với nhau. Tại bệnh viện, chúng tôi thường đẩy khối thoát vị vào ổ bụng và đặt 1 tấm lưới bên trên và khâu vào mô xung quanh.Nó giúp tăng cường sự vững chắc của thành bụng và kỹ thuật này rất dễ thực hiện. Nhưng Shang, như các bác sĩ ở Shouldice khác, họ coi tấm lưới này là nguy cơ nhiễm trùng (vì nó là dị vật), đắt tiền (hàng trăm $) và không cần thiết (họ thành công khi không cần dùng đến nó).

Giống như Shang và tôi nói về sự lựa chọn thay thế, ông khâu thành bụng lại với nhau theo 3 lớp cơ riêng biệt, sử dụng chỉ tốt, để đảm bảo rằng rìa của mỗi lớp chồng lên nhau như bộ đồ chồng ngực (như khi cài khuy áo vest). Sau khi Shang đóng da bệnh nhân bằng các clip nhỏ, bệnh nhân đong đưa chân bên cạnh bàn, đứng dậy và đi ra khỏi phòng mổ. Quá trình phẫu thuật chỉ diễn ra trong ½ giờ. Nhiều bác sĩ ngoại ở nơi khác sử dụng phương pháp đặc biệt của Shouldice nhưng nguy cơ tái phát bất thường. Nó không phải là kỹ thuật duy nhất làm nên thành công của Shouldice. Các bác sĩ ở Shouldice cung cấp cách phục hồi thoát vị bằng chip, họ thích gọi mình là “nhà máy tập trung”. Ngay cả việc xây dựng bệnh viện cũng được thiết kế đặc biệt cho bệnh nhân bị thoát vị. Phòng của họ không có điện thoại hay TV, mà bữa ăn của họ được phục vụ ở sảnh ăn tầng dưới, kết quả là các bệnh nhân không có lựa chọn nào khác ngoài đứng dậy và đi xung quanh, điều đó giúp ngăn ngừa các vấn đề liên quan tới “không vận động sớm sau mổ” như viêm phổi hay tắc mạch chi dưới.

Sau khi Shang bàn giao bệnh nhân cho y tá, ông tiếp nhận bệnh nhân tiếp theo và đi thẳng trở lại phòng mổ vừa nãy. Chưa đến 3 phút trôi qua nhưng căn phòng đã được lau sạch sẽ. Sàn nhà sạch và bộ dụng cụ mới đã được bày ra. Và rồi ca mổ tiếp theo bắt đầu. Tôi hỏi Bayrnes Shouldice, con trai của trưởng phòng khám và bản thân cũng là bác sĩ phẫu thuật thoát vị rằng Có bao giờ anh thấy chán khi cứ phẫu thuật thoát vị cả ngày hay không. “Không!” Anh ấy nói với cái giọng Spock-live: “Sự hoàn hảo chính là sự phấn khích”

Nghịch lý thay, không ai trong 3 bác sĩ phẫu thuật mà tôi theo dõi mổ tại bệnh viện Shouldice từng làm ở bệnh viện chuẩn hay đào tạo phẫu thuật bài bản. Shang từng là 1 bác sĩ gia đình, Byrnes Shoulder được tuyển thẳng vào trường Y, và ông sếp từng là 1 bác sĩ sản khoa. Tuy nhiên sau khi học nghề được 1 năm, họ trở thành các bác sĩ phẫu thuật thoát vị tốt nhất thế giới. Nếu bạn không làm gì khác ngoài việc chỉ phẫu thuật thoát vị hoặc nội soi đại tràng, liệu bạn thật sự cần hoàn thành khóa đào tạo đặc biệt để trở nên xuất sắc.

Mặc dù ngành y tế bắt đầu nhận ra rằng việc tự động hóa như Shouldice có thể tạo ra kết quả tốt hơn trong điều trị và chăm sóc y tế, nhưng nhiều bác sĩ không hoàn toàn tin chắc điều đó. Hầu hết bác sĩ tin rằng việc chẩn đoán không thể trở thành các thứ tổng quát hóa như kiểu “sách dạy nấu ăn” hoặc đại loại kiểu đó. Thay vào đó, họ cho rằng, phải có các đặc trưng cho từng bệnh nhân riêng lẻ.

Việc này chỉ đúng trên lý thuyết? Khi tôi là chỉ đạo chuyên môn ngoại ở khoa cấp cứu, tôi thường yêu cầu phải đánh giá xem liệu 1 bệnh nhân đau bụng có bị viêm ruột thừa hay không. Tôi lắng nghe thật kỹ bệnh sử của người bệnh và xem xét nhiều yếu tố nguy cơ. Bụng này đối với tôi là như thế nào, cường độ đau và vị trí đau, thân nhiệt bệnh nhân, sự thèm ăn và kết quả xét nghiệm. Nhưng tôi không cho tất cả vào 1 công thức hay tính toán ra kết quả, tôi dùng đánh giá lâm sàng của bản thân – trực giác của tôi – để quyết định liệu anh ta có nên mổ, giữ lại bệnh viện theo dõi hay được xuất viện về. Chúng ta đều đã nghe về những trường hợp trái ngược lại với số liệu thống kê – bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối lại phục hồi một cách thần kỳ chẳng hạn. Đó là lý do vì sao các bác sĩ tin rằng họ làm tốt hơn khi gắn bản năng đã được mài dũa sắc bén khi đưa ra chẩn đoán.

Ngày cuối tuần làm việc, có một phụ nữ 39 tuổi vào viện vì đau bụng dưới bên phải. Cô vẫn khá ổn, không nôn không sốt, cô vẫn ăn uống bình thường và không có phản ứng thành bụng. Kết quả xét nghiệm không có gì đặc biệt. Nhưng tôi vẫn quyết định tư vấn cắt ruột thừa viêm. Bạch cầu cô ấy tăng cao, cho thấy có sự nhiễm trùng và hơn nữa trông cô ấy rất có vẻ “có bệnh”. Đây là trực giác của phẫu thuật viên. Bạn có thể không biết chính xác điều gì đang xảy ra, nhưng bạn chắc chắn biết có điều gì đó đáng lo ở đây. Chúng tôi tiến hành phẫu thuật và thấy ruột thừa viêm thật.

Không lâu sau đó, tôi tiếp nhận bệnh nhân 65 tuổi với triệu chứng giống như trên. Kết quả xét nghiệm như nhau, tôi chỉ định CT scan bụng, nhưng kết quả bình thường. Ở đây, bệnh nhân phù hợp với tiêu chuẩn của VRT, và tôi nhìn anh ta cũng có vẻ đáng ngờ. Trong phẫu thuật kiểm tra thấy ruột thừa sau khi cắt lại bình thường. Ông bị viêm túi thừa manh tràng, viêm đại tràng mà thường không cần phẫu thuật.

Phải chăng trường hợp thứ 2 điển hình hơn trường hợp 1? Suy xét gốc rễ trong nghiên cứu của Swedish về cá tính hóa, phương pháp trực quan nằm ở chỗ y học hiện đại có chỗ hổng – có thể gây ra nhiều sai lầm. Có nhiều nghiên cứu ủng hộ vấn đề này từ nhiều nghiên cứu ngoài ngành y. Trong hơn 4 thập kỷ qua, tâm lý học nhận thức đã cho thấy nhiều khi với các thuật toán mù mờ thường làm rối loạn khả năng dự đoán và chẩn đoán của con người. Trong những bài viết gần đây, Meehl và các nhà khoa học xã hội như David Faust và Robyn Dawes đã xem xét hơn 100 nghiên cứu so sánh máy tính hoặc các công thức thống kê với phán đoán cá nhân trong việc dự đoán mọi việc có nhiều khả năng xảy ra từ việc 1 công ty sẽ phá sản đến tuổi thọ của một bệnh nhân bệnh gan.Bạn có thể nghĩ rằng con người và máy tính làm việc chung sẽ có những quyết định tốt nhất. Nhưng như các nghiên cứu này chỉ ra, nếu ý kiến đồng thuận nhau, không thành vấn đề. Nếu 2 bên có ý kiến phủ nhận nhau, nghiên cứu cho thấy bạn nên gắn bó với quyết định của máy tính.

Ưu thế của máy tính khi tính toán? Đầu tiên, Dawes lưu ý, tính người có sự mâu thuẫn: chúng ta dễ bị ảnh hưởng bởi gợi ý, thứ tự xuất hiện, kinh nghiệm, phiền nhiễu và cách mà thông tin được hệ thống lại. Thứ hai, tính người không tốt khi xem xét nhiều yếu tố. Chúng ta có xu hướng đưa ra một số giá trị quá nhiều trọng lượng và sai lầm khi loại bỏ cái khác. Một chương trình máy tính tốt nhất quán và tự động cho mỗi yếu tố một giá trị thích hợp. Trong nghiên cứu của Swedish, Ohlin hiếm khi phạm sai lầm rõ ràng. Nhưng nhiều EKGs, đang ở vùng mập mờ, với vài gợi ý về trái tim khỏe mạnh và 1 vài gợi ý khác đến cơn đau tim. Bác sĩ phải khó khăn trong việc ước lượng trung thực rằng đâu là thông tin quan trọng và họ dễ dàng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài, chẳng hạn như bản EKG cuối cùng họ nhìn là như thế nào.(ví dụ nhồi máu cơ tim ở người trẻ hiếm khi xảy ra và các bác sĩ có xu hướng phủ nhận chẩn đoán này)

Không thể tránh khỏi việc bác sĩ phải để máy tính chiếm một phần nhất định trong việc chẩn đoán. PAP được sử dụng trong số hóa sàng lọc soi phiến kính- sau lấy mẫu từ cổ tử cung phụ nữ để sàng lọc tiền ung thư hoặc ung thư. Máy móc được phát triển công nghệ để chẩn đoán VRT, chứng mất trí, rối loạn tri giác cấp tính và các bệnh lây qua đường tình dục. Một số khác có thể dự đoán chính xác chẩn đoán ung thư, ghép tạng và phẫu thuật gan tim.

Trong điều trị bệnh, 1 phần của Y tế toàn cầu đã bắt đầu học tập kinh nghiệm của Bệnh viện Shouldice vì những ưu điểm chuyên ngành và chăm sóc tự động. Regina Herzlinger, giáo sư của Đại học Havard, là người đã giới thiệu thuật ngữ “nhà máy tập trung chăm sóc sức khỏe” trong cuốn sách của bà về cuộc đua trên thị trường chăm sóc sức khỏe. chỉ ra ví dụ khác, bao gồm Viện Tim Texas trong phẫu thuật tim, trung tâm ghép tủy Đại học Duke. Bệnh nhân ung thư vú được chăm sóc tốt nhất trong trung tâm chuyên điều trị ung thư, nơi có các phẫu thuật ung thư, bác sĩ chuyên ngành ung thư, chuyên gia trị liệu phóng xạ, bác sĩ phẫu thuật, chuyên gia dinh dưỡng và những người khác chăm sóc bệnh nhân ung thư vú từ ngày vào viện tới ngày ra viện. Và hầu hết các bệnh viện đã đi theo một quy chuẩn và giao thức để điều trị bệnh. Các mạng máy tính đơn thuần thực hành kinh nghiệm đến lĩnh vực chẩn đoán.

Tuy nhiên, việc chống lại cơ giới hóa y học sẽ vẫn còn. Một phần vì 1 số bác sĩ ngoan cố với việc phải thay đổi cách làm việc. Một phần của nó, xét từ yêu cầu chính đáng, với tất cả những kỹ thuật điêu luyện đạt được và kinh nghiệm lâm sàng sẽ mất đi khi làm bằng máy móc. Việc chăm sóc hiện đại đã thiếu đi sự liên quan đến con người, và đặc tính kỹ thuật này của nó làm xa lánh những người được nó phục vụ.

Tuy nhiên tình thương và công nghệ không nhất thiết phải tương khắc với nhau. Điều đó để nói rằng, máy móc có thể là người bạn tốt nhất của y học. Ở mức độ đơn giản nhất, không có liên hệ gì giữa bác sĩ và bệnh nhân là một sai lầm. Và trong khi những lỗi lầm bám lấy ta – kể cả máy móc không hoàn hảo – niềm tin chỉ tăng lên khi sai lầm được sửa chữa. Hơn nữa, như “hệ thống” – ngày càng nhiều kỹ thuật y học, người bác sĩ có thể ở vị trí trong khía cạnh nào đó quan trọng ngay cả khi không có công nghệ – họ nói chuyện với bệnh nhân của họ. Bệnh nhân luôn cần bác sĩ giúp chúng ta hiểu điều gì đang xảy ra và vì sao, và điều gì có thể hay điều gì không thể. Trong một mạng lưới ngày càng rắc rối của chuyên ngành và hệ thống chuyên ngành, bác sĩ có nghĩa vụ lớn hơn trong việc phục vụ và tâm tình. Có thể máy tính quyết định, nhưng vẫn cần bác sĩ chữa bệnh.


Bạn cũng có thể truy cập website bằng tên miền https://capnhatykhoa.net

Bình luận của bạn